1. Lịch sử hình thành luật lao động tại Việt Nam

Bộ luật lao động đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kì họp thứ 5 thông qua ngày 23.6.1994, có hiệu lực từ ngày 01.01.1995 và được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động, do Quốc hội khóa X, kì họp thứ 11 thông qua ngày 02.4.2002.

Các quy định của Bộ luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động đặc trưng của kinh tế thị trường, quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Một số quy định của Bộ luật lao động còn được áp dụng với quan hệ lao động của cán bộ, công chức nhà nước.

Nội dung chủ yếu của Bộ luật lao động gồm các quy định về: việc làm, học nghế, hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, tiển lương, điều kiện lao động, chế độ làm việc, kỉ luật lao động, trách nhiệm vật chất, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động, những quy định riêng đối với lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi, người tàn tật, lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao, giải quyết tranh chấp lao động, quản lí nhà nước về lao động... Trong đó, có những quy định mang tính bắt buộc (bảo hiểm xã hội, quản li nhà nước về lao động...), có những quy địng mang tính hướng dẫn, định mức... để các bên thoả thuận (hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể...), có những quy định chỉ mang tính nguyên tắc... Vị vậy, các văn bản giải thích, hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động (nghị định, thông tư...) cần được sử dụng đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật lao động. hiện nay đang áp dụng bộ luật lao động năm 2019.

2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về quan hệ lao động

Đại hội lần thứ VI của Đảng mở ra thời kỳ mới phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần tham gia. Trong quá trình đổi mới, từ thực tiễn, Đảng ta nhận thức rõ hơn về kinh tế thị trường, Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định “tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Từ đó cho đến nay, qua các kỳ đại hội, cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện.

Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã đề ra chủ trương mở rộng hình thức thuê mướn lao động. “Trong việc thuê mướn lao động, người lao động và người sử dụng lao động bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước, với sự tham gia của công đoàn, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, phải kiểm tra, kiểm soát việc thuê mướn, sử dụng và trả công lao động, cải thiện điều kiện lao động; bảo đảm thực hiện những quy định về bảo hộ, an toàn lao động; giải quyết tốt mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động theo pháp luật, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động”. Đại hội lần thứ IX và các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng đều nhấn mạnh vai trò của thị trường lao động: tiếp tục hoàn chỉnh thị trường lao động, bảo đảm hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động; chế độ hợp đồng lao động được mở rộng, áp dụng phổ biến cho các đối tượng lao động; tiền lương, tiền công phải được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Cùng với việc phát triển đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, thị trường lao động được từng bước hình thành và phát triển, tạo tiền đề để phát triển quan hệ lao động.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng đã đề ra một số giải pháp nhằm tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ lao động trong giai đoạn mới, trong đó tập trung sửa đổi các quy định của pháp luật để bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định về ký hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; ban hành quy định pháp luật về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tăng cường cơ chế đối thoại, thương lượng giữa người sử dụng lao động và người lao động. Quy định rõ quyền, trách nhiệm của người sử dụng lao động và công nhân trong xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ.

Để triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp nhằm phát triển quan hệ lao động theo các Nghị quyết của Đảng, ngày 05/6/2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp. Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW, trên cơ sở sơ kết đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại, ngày 7/4/2014 Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 96- KL/TW nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW. Có thể nói rằng Chỉ thị số 22CT/TW của Ban Bí thư và Kết luận số 96-KL/TW của Bộ Chính trị là những định hướng lớn để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật lao động và đổi mới hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức đại diện của người lao động và tổ chức đại diện của người sử dụng lao động, tiến tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

>> Xem thêm:  Luật lao động là gì ? Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của luật lao động ?

3. Hệ thống pháp luật về quan hệ lao động

Thể chế các quan điểm của Đảng về quan hệ lao động, hệ thống pháp luật về lao động và quan hệ lao động đã có những thay đổi cơ bản và tiếp tục được hoàn thiện. Pháp lệnh Hợp đồng lao động được ban hành ngày 30/8/1990 trên cơ sở chuyển việc tuyển dụng biên chế suốt đời của doanh nghiệp nhà nước sang hợp đồng lao động. Đây là dấu mốc quan trọng của việc chuyển đổi quan hệ lao động. Tiếp theo đó là Bộ luật Lao động năm 1994, lần đầu tiên được ban hành ở Việt Nam, nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.

Trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật lao động tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội. Theo đó, Bộ luật Lao động năm 1994 được sửa đổi bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 và năm 2012, 2019

Việc ban hành Bộ luật Lao động ban hành năm 2012 (thay thế Bộ luật Lao động năm 1994), Luật Công đoàn năm 2012, cùng với đó các luật chuyên đề lần lượt được ban hành như Luật Việc làm năm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn và vệ sinh lao động năm 2015 là một bước tiến trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động và quan hệ lao động ở Việt Nam.

Xét trên tổng thể, Bộ luật Lao động ban hành năm 2012 đã quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện của người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động, với những nội dung chủ yếu sau:

- Tiếp tục khẳng định quyền tự do tìm việc, lựa chọn việc làm và nơi làm việc của người lao động; quyền được thương lượng thỏa thuận với người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình trong quá trình làm việc. Người sử dụng lao động muốn sử dụng người lao động làm việc lâu dài cần phải có chính sách đãi ngộ phù hợp và có sức cạnh tranh cao.

- Những quy định về hợp đồng lao động tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện nhằm thúc đẩy cơ chế thỏa thuận theo nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.

- Các tiêu chuẩn lao động tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp với tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế như: căn cứ để xác định mức tiền lương tối thiểu, mức tiền lương tối thiểu được xác lập theo tháng, theo ngày và theo giờ; cơ chế tham vấn và khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia về mức lương tối thiểu; tiêu chuẩn thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiêu chuẩn về an toàn và vệ sinh lao động; tiêu chuẩn về môi trường làm việc an toàn; các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nại lao động hình thành nên các quỹ bảo hiểm để bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động, chia sẻ trách nhiệm cộng đồng giữa các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Các quy định trên làm cơ sở để các bên thương lượng, thỏa thuận và tạo lập quan hệ lao động hài hòa.

- Đặc biệt Bộ luật Lao động ban hành năm 2012 đã đưa vấn đề đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể khi một bên có yêu cầu là vấn đề bắt buộc. Phạm vi và cấp độ thương lương cũng được mở rộng, bao gồm thương lương tập thể cấp doanh nghiệp, cấp ngành và thương lượng tập thể nhóm doanh nghiệp; Bộ luật Lao động, Luật công đoàn cũng quy định vai trò của công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc đối thoại và thương lượng tập thể tại nơi làm việc và giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động.

- Tiếp tục hoàn thiện các thiết chế về giải quyết tranh chấp lao động, trong đó coi trọng việc giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải và trọng tài; quy định rõ hơn quyền của người sử dụng lao động, bảo đảm bình đẳng với người sử dụng lao động như quyền được chấm dứt hợp đồng lao động trong một số trường hợp, quyền xử lý kỷ luật khi người lao động vi phạm, quyền đóng cửa doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Năm 2021, một số thuật ngữ mới được áp dụng trong luật lao động

Bên cạnh đó, những văn bản pháp luật khác cũng đã quy định những điều, khoản có liên quan đến quan hệ lao động để bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định trình tự tố tụng giải quyết các vụ án lao động; Bộ luật Hình sự năm 2017 quy định một số hình phạt đối với một số hành vi liên quan đến sa thải người lao động, nợ đọng, chiếm dụng quỹ bảo hiểm xã hội.

Những quy định trên đây tạo nền tảng, cốt lõi để xác lập quan hệ lao động và xây dựng, phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại nơi làm việc.

Tuy nhiên hệ thống pháp luật lao động hiện hành vẫn còn một số tồn tại, bất cập như: chưa bảo đảm quyền bình đẳng giữa người lao động với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, nhất là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; quyền tham gia tổ chức và quyền thương lượng tập thể của người lao động chưa phù hợp với các tiêu chuẩn của ILO; vai trò của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với những doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn cơ sở quy định mang tính áp đặt, không khả thi; vai trò của tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động chưa được luật pháp hóa; hòa giải, trọng tài được quy định bắt buộc, thiếu linh hoạt, phạm vi hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động rất hẹp; pháp luật vẫn thừa nhận đình công không đúng trình tự quy định của pháp luật; thiếu cơ chế pháp lý thúc đẩy quan hệ lao động ba bên ở trung ương và địa phương. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, đã tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn lao động của ILO về quyền thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động và quyền thương lượng tập thể. Đây là vấn đề mấu chốt làm thay đổi cơ bản hệ thống pháp luật về quan hệ lao động ở Việt Nam trong thời gian tới.

4. Ý nghĩa của việc quy định các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động.

1. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người làm việc không có quan hệ lao động; khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động.

2. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội.

3. Tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động; áp dụng một số quy định của Bộ luật này đối với người làm việc không có quan hệ lao động.

4. Có chính sách phát triển, phân bố nguồn nhân lực; nâng cao năng suất lao động; đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; hỗ trợ duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động; ưu đãi đối với người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

5. Có chính sách phát triển thị trường lao động, đa dạng các hình thức kết nối cung, cầu lao động.

6. Thúc đẩy người lao động và người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

>> Xem thêm:  Quan điểm và định hướng ban hành bộ luật lao động mới nhất

7. Bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên.

5. Ví dụ về quan hệ lao động được pháp luật điều chỉnh

Người lao động thử việc tại công ty và ký kết hợp đồng thử việc với phía người sử dụng lao động với thời hạn là 60 ngày. Và được điều chỉnh từ Điều 24 đến Điều 27 Bộ luật lao động năm 2019

Người lao động chưa thanh niên làm việc cho ngưới sử dụng lao động và có ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 1 năm, chịu sự điều chỉnh bởi quy định từ Điều 143 đến Điều 147 Bộ luật lao động năm 2019.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Bố cục của bộ luật lao động mới nhất ban hành năm 2019 hiện đang áp dụng

Câu hỏi thường gặp về luật lao động ?

Câu hỏi: Người lao động cao tuổi là

Trả lời:

Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi lao động theo quy định.

Câu hỏi: Lao động chưa thành niên là

Trả lời:

Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi và phải đảm bảo một số yêu cầu nhất đinh khi lao động.

Câu hỏi: Khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:

Trả lời:

a) Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;

b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;

c) Phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng;

d) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.