1. Khái quát về quan hệ lao động?
Các quan hệ lao động này ngày càng phức tạp, đan xen và có sự chuyển hoá lẫn nhau, cho nên trong thực tế nhiều khi sự phân định chúng chỉ có tính chất tương đối. Trong số các quan hệ lao động cá nhân tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay, luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quả trình lao động, nói cách khác luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ mua bán, trao đổi sức lao động với tư cách là hàng hoá trong thị trường lao động, đây là loại quan hệ lao động tiêu biểu, phổ biến trong nền kinh tế thị trường, về mặt hình thức, các quan hệ lao động này thường phát sinh trên cơ sở hình thức pháp lí nhất định (Ví dụ: HĐLĐ - bằng văn bản hoặc lời nói).
Tuy nhiên, trong thực tể, quan hệ lao động cá nhân biểu hiện rất đa dạng, nếu chỉ dựa vào hình thức pháp lí để xác định quan hệ là không đầy đủ mà cần phải đánh giá và xác định quan hệ dựa trên các tiêu chí/dấu hiệu có tính chuẩn mực. về vấn đề này, Khuyến nghị số 198 về quan hệ việc làm (được thông qua ngày 15/6/2006) của Tổ chức Lao động quốc tế cũng đã cho rằng:
"... Xét thấy có sự khó khăn trong việc xác định cỏ hay không có quan hệ việc làm trong trường hợp quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên liên quan không rõ ràng; trong trường hợp cố tình che giấu quan hệ việc làm; trong trường hợp khung khổ pháp luật và sự giải thích hoặc áp dụng khung khổ pháp luật đó không đầy đủ hoặc còn hạn chế, vậ ghi nhận rằng có những tình trạng mà các thỏa thuận mang tính hợp đồng có thể tước đi sự bảo vệ đối với người lao động mà đáng ra họ phải được hưởng... ”.
Do đó, Khuyến nghị số 198 (tại Mục II. Việc xác định sự tồn tại của quan hệ việc làm) đã quy định:
"11. Nhằm thuận tiện cho việc xác định sự tồn tại của quan hệ việc làm, các quốc gia thành viên, trong khuôn khổ của chính sách quốc gia được đề cập trong Khuyến nghị này, cần cân nhắc những khả năng sau đây:
(a) Cho phép sử dụng nhiều công cụ và hình thức đế việc xác định sự tồn tại của quan hệ việc làm;
(b) Quy định việc suy đoản pháp luật về sự tồn tại của quan hệ việc làm nếu có một hoặc nhiều dấu hiệu chỉ báo có liên quan; và
(c) Sau khi tham vẩn với các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động, quy định một số đặc điếm của người lao động nói chung hoặc đặc điểm trong một lĩnh vực cụ thể để xác định rõ ràng hoặc họ là người lao động làm thuê hoặc họ là người lao động tự tạo việc làm.
Trên cơ sở đó, Khuyến nghị số 198 đưa ra hai dấu hiệu để nhận biết quan hệ việc làm (được hiểu là quan hệ lao động cá nhân):
1) Thực tế là công việc
2) Định kì trả công (lương) với một số chỉ báo cụ thể cho tùng dấu hiệu:
“(a) Thực tế là công việc: được thực hiện theo sự chỉ .dẫn và dưới sự kiểm soát của phía bên kia; công việc có sự tương tác với công việc của người lao động khác trong tổ chức của doanh nghiệp; công việc được thực hiện duy nhất vì lợi ích hoặc chủ yếu vì lợi ích của người khác; cống việc phải được thực hiện bởi chính người lao động; công việc được thực hiện trong thời gian làm việc cụ thể, tại nơi làm việc cụ thể hoặc nơi khác nếu được bên yêu cầu công việc đồng ý; công việc tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và có tính liên tục; công việc đòi hỏi tính sẵn sàng làm việc của người lao động; công việc cần sự cung cẩp công cụ, nguyên liệu và máy móc làm việc bởi bên yêu cầu công việc;
(b) Việc định kì trả công cho người lao động; tiền công là nguồn gốc thu nhập duy nhất hoặc nguồn gốc thu nhập chủ yếu của người lao động; trả công bằng hiện vật như thực phấm, chỗ ở hoặc phương tiện đi lại; ghi nhận sự cho phép nghỉ hàng tuần, nghỉ hàng năm; bên yêu cầu công việc thanh toán tiền đi lại cho người lao động để thực hiện công việc; hoặc không có sự rủi ro tài chỉnh cho người lao động”.
Khái quát lại các tiêu chí/chỉ báo để nhận biết một quan hệ việc làm (quan hệ lao động cá nhân) theo Khuyến nghị số 198 bao gồm:
- Chịu sự quản lí hay phụ thuộc;
- Kiểm soát và hướng dẫn công việc;
- Sự tương tác của người lao động trong doanh nghiệp;
- Thực hiện công việc chủ yếu hoặc phần lớn vì lợi ích của người khác;
- Người lao động tự mình thực hiện công việc;
- Thực hiện công việc trong thời gian cụ thể và tại địa điểm được thoả thuận;
- Có thời hạn cụ thể và tính liên tục;
- Yêu cầu sự sẵn sàng làm việc của người lao động;
- Cung cấp dụng cụ/nguyên vật liệu bởi người yêu cầu công việc;
- Định ki trả lương cho người lao động;
- Tiền lương là nguồn thu nhập chính hoặc duy nhất;
- Trả công bằng hiện vật;
- Ghi nhận quyền nghỉ ngơi (ví dụ nghỉ hằng tuần và nghỉ hằng năm);
- Chi phí đi lại được chi trả bởi người yêu cầu công việc;
- Không có rủi ro về tài chính đối với người lao động.
Như vậy, khi nhận biết quan hệ lao động cá nhân mà chỉ chú ý đến hình thức pháp lí của quan hệ (ví dụ: có HĐLĐ hay không) hoặc có lưu ý đến một số dấu hiệu của quan hệ lao động cá nhân (quan hệ việc làm) nhưng thiếu tính hệ thống và đầy đủ thì không tránh khỏi sự hạn chế về nhận thức lí luận, học thuật và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc xác định nội dung pháp luật cũng như hiệu quả điều chỉnh của pháp luật với quan hệ lao động cá nhân. Thêm nữa, với sự xuất hiện các dạng thức mới của quan hệ việc làm trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (Ví dụ: dịch vụ công nghệ hỗ trợ vận tải như Grab, Uber, Go - Việt...) đã làm thay đổi mối quan hệ lao động hiện tại và mô hình quản lí nhân sự truyền thống, dẫn đến những yêu cầu thay đổi nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động trong bối cảnh mới mà hệ thống pháp luật lao động thực định chưa đáp ứng được.
Xu hướng vận động và phát triển của khoa học pháp lí luật lao động Việt Nam đang ngày càng tiếp cận với lí thuyết hiện đại về quan hệ lao động của thế giới nhưng cũng có những đặc thù nhất định về mặt lịch sử. Theo đó, luật lao động Việt Nam điều chỉnh quan hệ lao động cá nhân với hình thức pháp lí được ghi nhận là HĐLĐ và nhìn chung không có giới hạn về phạm vi chủ thể (miễn là đủ điều kiện theo quy định pháp luật). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, luật lao động không điều chỉnh tất cả các quan hệ lao động trong xã hội mặc dù có mối quan hệ rất gần gũi với quan hệ lao động cá nhân như quan hệ của công chức, viên chức nhà nước với cơ quan nhà nước, xã viên với họp tác xã, quan hệ dịch vụ, gia công... đã được luật hành chính, luật hợp tác xã, luật dân sự điều chỉnh... phù hợp với tính chất và đặc điểm của những quan hệ này. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng các quan hệ lao động này cũng có những nội dung gần gũi với quan hệ lao động cá nhân và trong thực tế luật chuyên ngành hiện hành chưa quy định đầy đủ để điều chỉnh các quan hệ lao động nói trên (như vấn đề thời giờ làm việc, nghỉ ngơi; an toàn lao động và vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội...). Vì vậy, các quy định của luật lao động cũng có thể được áp dụng ở mức độ cần thiết để phúc đáp yêu cầu điều chỉnh các vấn đề lao động và sử dụng lao động trong phạm vĩ phù hợp. Điều 220 (khoản 3) BLLĐ năm 2019 quy định:
“Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, tổ chức xã hội, xã viên hợp tác xã, người làm việc không có quan hệ lao động do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tuỳ từng đối tượng mà được áp dụng một sổ quy định trong Bộ luật này ”.
2. Khái niệm quan hệ pháp luật lao động cá nhân
Quan hệ lao động cá nhân là quan hệ xã hội có tính tất yếu trong thị trường nhằm phúc đáp các nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế-xã hội. Theo đó, một bên là người lao động có nhu cầu làm việc để tìm kiếm thu nhập và một bên là đơn vị, tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động chủ yếu để phục vụ hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận. Thị trường lao động là môi trường để thực hiện hoạt động này. Tuy nhiên, đây không đơn thuần là mối quan hệ cá nhân của hai bên mà quan hệ lao động thuộc phạm vi điều chỉnh của luật lao động là những quan hệ mang tính xã hội hoá, diễn ra giữa nhiều người với nhiều mối quan hệ liên quan trong sự liên hệ mật thiết và tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội. Thêm nữa, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và trong một “thế giới phẳng” thì việc di chuyển lao động giữa các quốc gia dẫn đến sự xuất hiện các quan hệ lao động quốc tế trong thị trường lao động quốc gia như là điều tất yếu. Tất cả những điều đó cho thấy nhu cầu cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật lao động với quan hệ lao động cá nhân.
Vậy, quan hệ pháp luật lao động cả nhân là quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình lao động được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh.
Quan hệ pháp luật lao động cá nhân là quan hệ pháp luật cơ bản và quan trọng nhất trong các quan hệ pháp luật lao động và phát sinh thông qua sự thoả thuận của các bên. Quá trình xác lập, tồn tại và chấm dứt quan hệ pháp luật lao động cá nhân sẽ làm phát sinh các quan hệ pháp luật lao động có liên quan như quan hệ |háp luật bồi thường thiệt hại, quan hệ pháp luật về giải quyết Lanh chấp lao động... Những quan hệ này được xếp vào nhóm aan hệ pháp luật lao động có liên quan đến quan hệ pháp luật lao ộng (sẽ được đề cập trong phần 3 của Chương này).
Trong thực tế, người ta có thể gọi “quan hệ pháp luật lao động i nhân ” là “quan hệ pháp luật về sử dụng lao động”1 hay “quan •ệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động” hay “quan hệ pháp luật lao động”. Đây là những thuật ngữ khác i hau nhưng cùng để chỉ quan hệ pháp luật lao động cá nhân.
Tuy nhiên, cần chú ý phân biệt quan hệ pháp luật lao động cá nhân chỉ là một loại quan hệ pháp luật lao động, ngoài ra còn có uan hệ lao động tập thể, những quan hệ pháp luật lao động khác luộc nhóm quan hệ pháp luật lao động có liên quan. Vì thế, hông nên sử dụng thuật ngữ “quan hệ pháp luật lao động” hay "quan hệ pháp luật về sử dụng lao động” để thay thế cho thuật “quan hệ pháp luật lao động cả nhân ” vì rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong quá trình vận dụng.
3. Đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động cá nhân
Với tư cách là một quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật lao g cá nhân có những đặc điểm nói chung của một quan hệ pháp luật. Ngoài ra, quan hệ pháp luật lao động cá nhân có những đặc điểm riêng sau đây:
- Trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động phải tự mình thực hiện công việc theo như cam kết trong quan hệ lao động.
- Trong quá trình thực hiện quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người sử dụng lao động có quyền quản lí, điều hành, giám sát đối với người lao động.
- Trong quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động cá nhân có sự tham gia của đại diện lao động.
Đây là những đặc điểm riêng biệt của quan hệ pháp luật lao động cá nhân để phân biệt với các quan hệ pháp luật cũng có yếu tố lao động khác, đặc biệt là quan hệ pháp luật dịch vụ dân sự.
Sau đây, chúng ta sẽ phân tích từng đặc điểm nói trên.
Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động phải tự mình thực hiện công việc theo như cam kết trong quan hệ lao động
Người lao động tự minh thực hiện công việc tức là chính người lao động đã kí hợp đồng sẽ phải bằng các hành vi của chính mình, sự tiêu hao về thời gian, thể lực, trí lực của mình để thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm đã cam kết trong quan hệ lao động. Như vậy, trong trường hợp không có sự thoả thuận nào khác, người lao động phải tự mình hoàn thành công việc mà không được tự ý chuyển giao nghĩa vụ đó cho người khác thực hiện.
Quan hệ pháp luật lao động cá nhân có đặc điểm này là vì:
- Khi tham gia quan hệ lao động, mỗi người lao động thực hiện các nghĩa vụ mang tính cá nhân nhưng kết quả cuối cùng là sự hợp tác của cả tập thể lao động. Vì vậy, khi xác lập quan hệ lao động bên cạnh trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động thì người sử dụng lao động còn quan tâm đến thái độ, phẩm chất, ý thức, khả năng phối hợp, làm việc nhóm... của người lao động và những lợi ích (tiền lương, thưởng, bổ nhiệm...) người lao động nhận được khi tham gia quan hệ là cho cả quá trình lao động chứ không chỉ là kết quả cuối cùng. Chính vì vậy, người lao động với tư cách là người bán sức lao động cho người mua là người sử dụng lao động phải tự mình thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong quan hệ lao động.
- BLLĐ đã quy định về nghĩa vụ bắt buộc phải tự mình thực hiện công việc của người lao động. (Theo quy định tại Điều 28 BLLĐ năm 2019: "... Công việc theo hợp đồng lao động phải do nguời lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện...) Do đó, thực hiện công việc theo hợp đồng lao động đã cam kết chính là người lao động đã tuân thủ và thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng lao động.
- Khi tham gia quan hệ lao động cá nhân, ngoài những quyền lợi người lao động có được thông qua thoả thuận trong hợp đồng lao động, còn có những chế độ, quyền lợi do pháp luật quy định (bảo hiểm xã hội, nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm...). Những chế độ, quyền lợi này gắn liền với nhân thân và sự đóng góp của người lao động khi tham gia quan hệ lao động (ví dụ: để hưởng chế độ hưu trí thì người lao động phải đủ độ tuổi và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội (tương ứng với thời gian làm việc) theo quy định; tương tự như vậy là thời gian nghỉ hàng năm...). Chính vì vậy, để hiện thực hoá các quyền của mình, người lao động phải trực tiếp tham gia làm việc hay nói cách khác là tự mình hoàn thành các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng lao động.
Tuy nhiên, trong thực tế cũng có trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp nếu được sự đồng ý của người sử dụng lao động, người lao động có thể tạm thời chuyển giao quyền và nghĩa vụ lao động của mình cho một người khác thực hiện. Đây là trường họp được chấp nhận nhằm đảm bảo tính linh hoạt của quan hệ pháp luật về sử dụng lao động. Khi đó, nghĩa vụ lao động sẽ tạm thời được chuyển từ người lao động kí hợp đồng lao động sang cho người thay thế. Một số quyền lợi liên quan cũng có thể chuyển giao nhưng riêng quyền tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội thì không thể chuyển giao được vì đó là quyền nhân thân quan trọng gắn với tư cách của người lao động.
Thứ hai, trong quả trình thực hiện quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người sử dụng lao động có quyền quản lí, giám sát, điều hành đoi với người lao động
Đây là đặc điểm có tính đặc thù của quan hệ pháp luật lao động cá nhân mà các quan hệ hợp đồng khác không có. Dưới góc độ khế ước, sự bình đẳng trong quan hệ lao động cá nhân phải được đảm bảo từ khi xác lập cho đến khi kết thúc quan hệ. Tuy nhiên, quyền quản lí lao động cũng xuất hiện như là một nhu cầu khách quan của quan hệ lao động. Có thể cắt nghĩa cho sự tồn tại song song của yếu tố bình đẳng và quản lí trong quan hệ lao động cá nhân như sau: Khi tham gia quá trình lao động, mỗi người lao động có nghĩa vụ riêng của mình và việc thực hiện các nghĩa vụ đó là độc lập với nhau. Tuy nhiên, lao động mà chúng ta nghiên cứu ở đây chủ yếu là lao động công nghiệp, lao động mang tính xã hội hoá, vì vậy kết quả cuối cùng của quá trình lao động lại phụ thuộc vào sự phối hợp, tính đồng bộ, thống nhất của cả tập thể lao động. Do đó, để hướng các hoạt động của từng người vào việc thực hiện kế hoạch chung đã định rất cần thiết phải thiết lập một trật tự, nền nếp chung với những đòi hỏi, yêu cầu, ràng buộc, sự ngăn cấm... đối với các chủ thể khi tham gia quan hệ. về vấn đề này, Các Mác đã từng khẳng định: “Người nghệ sĩ độc tẩu thì tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Trật tự, nền nếp trong quá trình lao động chung giữa một nhóm người hay trong một đơn vị dẫn đến nhu càu quản lí, giám sát, điều hành lao động. Với ý nghĩa này, quản lí lao động là một phạm trù tất yếu khách quan trong quá trình tổ chức quan hệ pháp luật lao động cá nhân.
Thực hiện quyền quản lí, giám sát của người sử dụng lao động thực chất là việc triển khai trong thực tế quyền kiểm soát của người sử dụng lao động đối với quá trình thực hiện công việc của người lao động. Nội dung của quyền quản lí lao động gồm: quyền tuyển chọn, phân công, sắp xếp, giám sát, khen thưởng, kỉ luật... đối với người lao động. Việc người sử dụng lao động có quyền quản lí, giám sát, điều hành người lao động trong quá trình lao động là đặc trưng quan họng của quan hệ pháp luật lao động cá nhân. Đây cũng là điểm giúp phân biệt quan hệ pháp luật lao động cá nhân với quan hệ pháp luật dịch vụ dân sự. Tuy nhiên, như trên đã trình bày, về bản chất quan hệ lao động cá nhân là quan hệ khế ước nhưng quá trình thực hiện quan hệ lại có sự chi phối của yếu tố quản lí, giám sát, điều hành lao động và khi hai yếu tố này không được xử lí hài hoà thì sẽ nảy sinh tranh chấp lao động, ở đây, vai trò của pháp luật lao động là một mặt tôn trọng quyền quản lí, giám sát của người sử dụng lao động nhưng mặt khác phải đặt quyền này trong sự tưong quan thích hợp với yếu tố bình đẳng của quan hệ lao động cá nhân với những thiết chế pháp lí và công cụ phù hợp.
Thứ ba, trong quả trình xác lập, duy trì, chẩm dứt quan hệ pháp luật lao động cả nhân có sự tham gia của đại diện lao động
Đặc điểm này khẳng định tính đặc thù của quan hệ pháp luật lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động so với các quan hệ lao động khác trong xã hội. Khi tham gia quan hệ lao động cá nhân, người lao động thường ở vị thế bất lợi trong mối quan hệ, do đó họ có xu hướng liên kết để bảo vệ quyền lợi của mình dẫn đến việc ra đời các tổ chức đại diện của người lao động và được pháp luật thừa nhận. Đại diện lao động tham gia trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân thông thường là tổ chức công đoàn do người lao động tự nguyện lựa chọn, bầu ra.
Sự tham gia của đại diện lao động vào quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động cá nhân được thực hiện thông qua nhiều biện pháp, trong đó có những biện pháp gián tiếp (tham gia xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chính sách, pháp luật lao động...) và trực tiếp (giúp đỡ cho người lao động trong quá trình kí kết hợp đồng lao động, đại diện và bảo vệ người lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động...).
Quyền có đại diện và tự do lựa chọn đại diện là một trong những quyền cơ bản của người lao động (kể cả người sử dụng lao động) gắn liền với tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản (Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức năm 1948; Công ước số 98 về ập dụng các nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949). Tự do liên kết được coi là một trong những tiêu chuẩn lao động cơ bản nhất của Tổ chức Lao động quốc tế, theo đó người lao động có quyền tự do thành lập, lựa chọn tổ chưc đại diện cho mình khi tham gia quan hệ lao động.
Ở Việt Nam, từ khi BLLĐ, Luật Công đoàn được ban hành để điều chỉnh quan hệ lao động trong thị trường thì đại diện lao động tham gia trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân thông thường là tổ chức công đoàn tại những nơi đã có tổ chức công đoàn. Trong trường hợp chưa có tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp, đại diện lao động tham gia quan hệ pháp luật lao động cá nhân có thể là công đoàn cấp trên cơ sở hoặc ban đại diện do tập thể lao động cử ra. Tuy nhiên, hoạt động của ban đại diện lao động chỉ có tính chất nhất thời, trong những thời điểm cần thiết và không phải lúc nào cũng được pháp luật lao động thừa nhận.[1] Như vậy, từ khi thừa nhận và phát triển kinh tế thị trường, trong đó có thị trường lao động thì đại diện cho quan hệ lao động cá nhân ở nước ta duy nhất là tổ chức công đoàn thuộc hệ thống Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.
Hiện nay, với việc kí kết và gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Paciííc Partnership - CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), trong đó có cam kết của Việt Nam về quyền tự do công đoàn thì người lao động có quyền tự do thành lập, lựa chọn tổ chức đại diện trong quan hệ pháp luật lao động trên cơ sở quy định của pháp luật.
4. Quan hệ lao động theo Bộ luật lao động 2019.
Trong quá trình tuyển dụng và sử dụng lao động, thường phát sinh các loại quan hệ lao động dưới đây:
1. Quan hệ lao động thử việc
Điều 24. Thử việc
1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.
2. Hợp đồng lao động với người lao động
Điều 20. Loại hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;
b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.
...
Điều 20. Loại hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;
b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.
5. Bộ Luật lao động và phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật lao động 2019?
Ngày 01/012/2021 vừa qua, Quốc hội đã ban hành Bộ Luật lao động 2019, là bộ luật mới nhất cho tới thời điểm hiện tại dùng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong đời sống. Điều 1 Bộ Luật lao động 2019 quy định về phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Bộ Luật như sau:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Bộ luật Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Người lao động, người học nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao động.
2. Người sử dụng lao động.
3. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật lao động, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến. Trân trọng!