1. Tạm đình chỉ điều tra là gì?
Tạm đình chỉ điều tra là việc tạm ngừng tiến hành các hoạt động điều tra đối với vụ án hoặc đối với bị can vì những lý do nhất định. Tạm đình chỉ điều tra là một giai đoạn điều tra, mà do những lý do khách quan cơ quan điều tra phải tạm dừng các hoạt động điều tra nhưng chưa đưa ra những kết luận cuối cùng về kết quả điều tra, chưa khẳng định về việc tiếp tục điều tra hay không.
Ý nghĩa của việc quy định về tạm đình chỉ điều tra là nhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn điều tra khi không cần thiết, đồng thời khắc phục việc lạm dụng thời hạn điều tra.
Quy định về tạm đình chỉ điều tra còn nhằm khắc phục hiện tượng quá tải, tồn động án ở khâu điều tra khi có những yếu tố bất khả kháng, để giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng điều tra và giảm tối đa những chi phí vật chất không cần thiết cho hoạt động tố tụng này.
Mặt khác, tạm đình chỉ điều tra còn là một giải pháp có ý nghĩa chủ động trong việc đề phòng những oan sai có thể xảy ra trong thực tiễn điều tra.
Việc tạm đình chỉ điều tra sẽ giúp cơ quan điều tra giảm bớt khả năng phải xin gia hạn điều tra, khi không cần thiết phải kéo dài thời hạn chờ đợi để tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết.
2. Các trường hợp tạm đình chỉ điều tra theo BLTTHS 2003
Theo Điều 160 BLTTHS 2003 thì:
Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra. Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.
Trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà hết thời hạn điều tra thì tạm đình chỉ điều tra và việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.
Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
Nếu không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra.
Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bị hại.
3. Các trường hợp tạm đình chỉ điều tra theo BLTTHS 2015
Theo Điều 229 BLTTHS 2015, Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
- Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;
- Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;
- Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.
4. BLTTHS 2015 bổ sung một số trường hợp tạm đình chỉ điều tra
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung thêm một số trường hợp tạm đình chỉ điều tra, đó là khi yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra. Quy định này để phù hợp với thực tiễn cũng như đồng bộ với những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung ở những điều luật khác trong Bộ luật; đồng thời, Bộ luật cũng quy định rõ hơn về thời hạn để tạm đình chỉ điều tra với từng trường hợp cụ thể cũng như việc gửi văn bản tạm đình chỉ điều tra tới Viện kiểm sát các cấp, bị can, bị hại.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã đề cập việc quy định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đồng thời cũng quy định rõ việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là nội dung rất quan trọng trong việc tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tế hiện nay đó là: khi hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, bấy lâu nay khi không có căn cứ để ra được một trong hai quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật thì không biết kết thúc theo thủ tục nào.
5. Tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm
Tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm là việc các cơ quan có thẩm quyền quyết định tạm ngừng giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong một thời gian nhất định khi có những căn cứ do pháp luật quy định theo một thủ tục trình tự luật định nhưng chưa đưa ra những kết luận cuối cùng về việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự và khi những căn cứ của việc tạm đình chỉ không còn, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiếp tục giải quyết nguồn tin về tội phạm đó.
Việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm phải dựa trên những căn cứ mà pháp luật quy định, trên cơ sở đảm bảo các quyền, tính chính xác và đúng đắn trong việc giải quyết và việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Thứ hai, tạm đình chỉ nguồn tin về tội phạm là việc nguồn tin về tội phạm đã được thụ lý bị tạm ngừng giải quyết do xuất hiện những tình tiết, sự kiện nhất định chứ không phải ngừng hẳn việc giải quyết về nội dung.
Thứ ba, tính chất gián đoạn, tạm thời của việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm sẽ được khắc phục, kết quả là hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm sẽ được khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 148 thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 147 thì thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố::
"a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.”
Như vậy, các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát.
Cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo hai căn cứ được quy định tại Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự sau đây:
Một là, đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;
Đây là căn cứ tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm được áp dụng đối với những vụ việc mà việc giải quyết phải thực hiện bằng các biện pháp trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, tương trợ tư pháp mà việc chờ kết quả mất nhiều thời gian. Bên cạnh đó, kết quả giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều vấn đề khác của vụ án, đồng thời có thể là chứng cứ quan trọng làm căn cứ để phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm nên việc quy định căn cứ này là phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Hai là, đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả.
Khoản 2 Điều 148 Bộ luật này cũng quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định tạm đình chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát và gửi quyết định tạm đình chỉ đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường hợp quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.
Các trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả (khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)