1. Bốc bát họ có phạm pháp không ? Chủ họ có phạm pháp luật cho vay nặng lãi không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có tham gia bốc bát họ 10 triệu nhưng thực ra chỉ nhận được có 8 triệu và tôi phải đóng 200 nghìn trong 50 ngày. Như vậy thì chủ họ có phạm pháp luật cho vay nặng lãi không ?
Người gửi : Đỗ Ngọc Sơn

Bốc bát họ có phạm pháp không ? Chủ họ có phạm pháp luật cho vay nặng lãi không ?

Luật sư tư vấn quy định pháp luật về cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.1975

Luật sư trả lời:

Từ những thông tin mà anh đã chia sẻ Luật sư nhận thấy đây là một hình thức cho vay nặng lãi căn cứ theo Điều 201 và Điều 201 Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định như sau:

Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 làn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Từ thực tế mà anh đã vay và nhận số tiền 8 triệu mà thực tế là vay 10 triệu với mức lãi suất cao ngất ngưởng, cao hơn nhiều lần so với mức lãi suất của Ngân hàng nhà nước. Thực chất hoạt động vay tiền của anh là giao dịch dân sự nên hai bên có thể tự thỏa thuận song thỏa thuận của anh và người cho vay không được trái với quy định của pháp luật Việt Nam. Rõ ràng anh và người cho vay đã thỏa thuận với mức lãi suất trái với quy định pháp luật nên giao dịch vay nợ không có giá trị pháp lý và ở trường hợp này người cho anh vay tiền có thể bị truy tố hình sự quy định tại Điều 201 Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội cho vay nặng lãi trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.1975 để được giải đáp.

Trân trọng./.

2. Tội cho vay nặng lãi theo quy định pháp luật hình sự ?

Chào luật minh khuê , mong luật sư tư vấn cho gia đình tôi. Em trai tôi có vay nợ của một ổ nhóm tín dụng đen ở hà nội qua quyển sổ hộ khẩu với số tiền là 400. 000₫ từ ngày 20/4/2017 nhưng em trai tôi không nói cho gia đình biết.
Hiện tại ngày 1/6/2018 chủ nợ có thuê một băng giang hồ về gia đình tôi khủng bố đòi nợ ép viết giấy vay nợ 20 triệu để trả cho em trai tôi. Xin hỏi luật sư giờ gia đình tôi phải làm thế nào khi từ chỉ có 400. 000₫ mà lên 20 triệu ?
Cảm ơn luật sư!
- Bùi Quốc Thành

Tội cho vay nặng lãi theo quy định pháp luật hình sự hiện hành

Luật sư tư vấn xử lý hành vi cho vay nặng lãi, gọi số: 1900.1975

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Thực tế việc người em vay tiền bên ngoài là một dạng giao dịch dân sự nên có vay phải có trả nhưng phải trả ở một mức độ nào đấy mà vẫn thuộc giao dịch dân sự chứ không bị hình sự hóa thì còn phải căn cứ vào mức lãi suất cho vay như thế nào. Trường hợp này nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất cho vay như thế nào thì có thể thỏa thuận lại nhưng mức lãi suất không vượt quá 20% một năm của khoản tiền vay theo Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

Thứ hai: Khi bên cho vay đến ép viết giấy nợ với số tiền là 20.000.000 đồng. Luật sư không rõ bên gia đình đã ký giấy vay nợ hay chưa. Nếu đã ký thì có thể gửi yêu cầu lên Tòa án để tuyên giấy vay nợ vô hiệu do bị ép buộc. Theo nguyên tắc thực hiện giao dịch dân sự phải đảm bảo được yếu tố tự nguyện thực hiện giao dịch nên giấy vay nợ này bị vô hiệu do vi phạm nguyên tắc giao kết giao dịch dân sự theo Điều 127 Bộ luật hình sự năm 2015.

"Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình."

Vậy nên trong trường hợp nếu gia đình mình đã ký vào giấy vay nợ thì vẫn có căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị cưỡng ép, mình sẽ không phải trả số tiền 20 triệu mà chỉ trả 400.000 đồng cùng với mức lãi suất theo quy định của pháp luật dân sự.

Còn trong trường khác mình có thể yêu cầu khởi tố hình sự đối với bên cho vay về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.

"Điều 201. Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.1975 để được giải đáp.

Trân trọng./.

3. Quy định về hình phạt đối với hành vi cho vay nặng lãi?

Thưa luật sư, Em là sinh viên có tham gia chơi lô, đề và hiện đang nợ một số tiền của bên cho vay nặng lãi (Em vay 10 triệu với mức lãi suất 5 nghìn/01 triệu/01 ngày). Họ thường xuyên đe dọa nếu không trả tiền sẽ cho xã hội đen chặt tay, hoặc đánh chết. Vậy em phải xử lý như thế nào? Pháp luật quy định hình phạt như thế nào đối với hành vi này?
Người gửi: Nguyễn Minh Thắng

Quy định về hình phạt đối với hành vi cho vay nặng lãi?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1975

Trả lời:

Điều 471 Bộ luật Dân sự quy định:

"Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Ngoài ra, khoản 4 điều 474 Bộ luật Dân sự quy định:

"4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận."

Theo như thỏa thuận, bạn đã giao kết hợp đồng vay tiền không có lãi. Khi đến hạn, bạn đã trả nợ đầy đủ, đồng thời các bên đã lập văn bản xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Như vậy hợp đồng đã hoàn thành. Bạn không còn bất kỳ nghĩa vụ nào khác đối với hợp đồng vay tiền, bên cho vay cũng không có quyền yêu cầu bạn thực hiện bất cứ một nghĩa vụ tài sản nào khác.

Tuy nhiên, sau khi chấm dứt hợp đồng, một số đối tượng đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm ép bạn phải trả khoản tiền lãi không được thỏa thuận trong hợp đồng. Hành vi này là trái pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản. Điều 135 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Trong trường hợp của bạn, có người đã thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực ép bạn trả tiền, bạn có quyền yêu cầu cơ quan công an áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe, tài sản của bạn, đồng thời khởi tố vụ án cưỡng đoạt tài sản nhằm xử lý nghiêm minh hành vi trái pháp luật.

>> Các văn bản liên quan:

Bộ luật 33/2005/QH11 Dân sự;

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 ( Luật hình sự số 37/2009/QH12 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự)

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

4. Bị bên cho vay nặng lãi thuê người đánh thì cần xử lý như thế nào ?

Chào luật sưtôi tên Đ năm nay 23 tuổi hiện tại tôi có vay của a C với số tiền là 11 triệu đồng trong đó ba triệu là tiền tôi báo lô cho anh chinh và 8 triệu đồng là tôi vay có để lại hai chiếc điện thoại oppo để làm tin khi tôi vay a ấy k nói cho tôi biết là lãi là bao nhiêu một ngày đến tháng tôi vẫn trả số tiền lãi mà a C đưa ra tổng cả tiền lô là 55nghin đồng 1ngay như vây là 1 tháng tôi phải trả là 1trieu800nghin được vài tháng tôi không có tiền để trả lãi nữa và Anh ấy đã thuê người tìm tôi và đánh tôi.

Vậy luật sư cho tôi hỏi là a chinh có bị kết tội là cho vay nặng lãi và thuê người đòi nợ đánh tôi không ạ. Xin cám ơn luật sư.

- N.T.Đ

Bị bên cho vay nặng lãi thuê người đánh thì cần xử lý như thế nào ?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi đòi nợ thuế, gọi số: 1900.1975

Luật sư trả lời:

Đặc trưng cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã có hành vi uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải giao tài sản cho người phạm tội.

Đe doạ sẽ dùng vũ lực là việc sử dụng lời nói hoặc hành động làm cho người bị đe doạ sợ nếu không giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ bị đánh đập tra khảo, bị đau đớn về thể xác…

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 2015)

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tại K1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về mức lãi suất cho vay như sau: "1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác".

+ Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 20%/năm lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi".

+ Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 20%/năm lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

''1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.''

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

+ Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 5 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi. Ví dụ: Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất cao nhất đối với cho vay tiền Việt Nam (đồng) kỳ hạn 3 tháng là 1%/tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng. Nếu hành vi cho vay tiền (VN Đồng) kỳ hạn 3 tháng với mức lãi trên 1,666%/tháng x 5 lần sẽ bị coi là cho vay lãi nặng.

+ Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính (30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay nặng lãi nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Với trường hợp của bạn, bạn vay nợ với số tiền 11.000.000 đồng, bạn không nói rõ là có làm hợp đồng hay giấy tờ gì không, và trong hợp đồng vay nợ có quy định về mức lãi suất hay không, mặc dù bạn bảo là không viết giấy nợ, anh C trên luật pháp không thể khởi kiện đòi tiền anh, trường hợp vay 11.000.000 đồng, tiền gốc và lãi suất tháng mà anh C yêu cầu anh trả là 1.800.000 đồng, theo pháp luật quy định, lãi suất tối đa không vượt quá 1,67% /tháng, và thỏa thuận sẽ không quá 5 lần 1,67%.

Bạn cũng không cung cấp thông tin bên anh C yêu cầu anh phải trả tiền gốc hàng tháng là bao nhiêu để tính được số lãi anh phải trả có vượt mức hay không, nên không thể biết anh C có bị ghép vào tội cho vay nặng lãi hay không. Cũng không có căn cứ để tố cáo hành vi gá cược lô đề, nếu bạn không có bằng chứng cụ thể chứng minh anh C ghi lô đề cho bạn.

Trường hợp này bạn chỉ có thể tố cáo anh C nếu anh C có hành vi đe dọa, cố ý gây thương tích cho anh, có bằng chứng chứng minh.

Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Trường hợp này cần cung cấp đầy đủ thông tin cho cơ quan công an để cơ quan điều tra làm rõ vụ việc.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.1975 để được giải đáp.

Trân trọng./.

5. Thủ tục khởi kiện đòi khoản tiền cho vay nặng lãi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em có một người bạn trong lúc khó khăn về kinh tế đã nhờ em vay cho bạn ấy số tiền 17 triệu đồng, lãi suất 5000d/1 triệu ngày và chỉ có giấy viết tay, hiện nay bạn ấy không trả nợ nên bây giờ số nợ lên đến cả trăm triệu.

Em đòi bạn ấy nhưng bạn ấy không trả. Em định làm đơn kiện bạn ấy nhưng không biết có vi phạm pháp luật không ?

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Hao

Thủ tục khởi kiện đòi khoản tiền cho vay nặng lãi?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1975

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý: Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011, Bộ luật hình sự năm 1999

Bạn của bạn đã nhờ bạn vay tiền. Pháp luật không quy định Hợp đồng vay tài sản bắt buộc phải tuân theo bất kỳ hình thức nào nên hai bên có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự. Vậy nên giấy viết tay này có giá trị như hợp đồng vay tài sản. Do đó, người bạn này - bên vay có nghĩa vụ như sau:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Tuy nhiên, trong giao dịch này, số tiền vay là 17 triệu, mức lãi suất là 5000/1 triệu/ngày nghĩa là 2,55 triệu/ tháng tương đương 15%/ tháng. Mức lãi suất này có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự 1999:

Điều 163. Tội vay nặng lãi

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về mức lãi suất cao nhất :

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố hiện nay là 9%/năm, tương ứng 0,75%/tháng. Vậy mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận không được vượt quá 1,125%/tháng. Mức lãi suất cấu thành tội cho vay nặng lãi là 11,25% trở lên.

Vấn đề ở đây là trong hợp đồng vay tài sản, người cho vay là bạn hay người khác. Nếu người cho vay là bạn, khi bạn khởi kiện rất có thể bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay nặng lãi. Nếu bạn không phải người cho vay thì bạn không có quyền khởi kiện họ đối với giao dịch này nhưng bạn có thể khởi kiện yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi dùng danh nghĩa của bạn để thực hiện giao dịch.

Trân trọng ./.

6. Khi nào người cho vay nặng lãi bị phạm tội ?

Thưa luật sư, Tôi có vay 100 triệu đồng của một người, tiền lãi là 5.000đồng/1 triệu/1 ngày. Tuy nhiên khế ước vay nợ không thể hiện khoản lãi vì khi giao tiền, chủ nợ chỉ đưa cho tôi có 80 triệu, 20 triệu còn lại thì họ nói là trừ vào tiền lãi trước. Vậy việc làm này của chủ nợ có dấu hiệu hình sự của việc cho vay nặng lãi không? Làm gì để có bằng chứng về những kiểu làm ăn khuất tất này để tố cáo với cơ quan công an?

Người gửi: Văn Lâm (Hà Nội)

Khi nào người cho vay nặng lãi bị phạm tội ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1975

Trả lời:
Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Hình sự, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 Bộ Luật Dân sự 2005 về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, quẫn bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất “chuyên bóc lột” của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: Người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và tiền thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính của mình.

Như vậy, lãi suất mà người đó tính với bạn là 180%/năm, bạn có thể tra cứu lãi suất cho vay cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm hợp đồng vay tiền (khế ước vay tiền) có hiệu lực, có thể là thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thời điểm trao tiền/tài sản, sau đó đối chiếu với cách tính lãi suất như trên để nhận định người cho vay có dấu hiệu hình sự của “Tội cho vay nặng lãi” hay không.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành cũng như trong quá trình tác nghiệp, Luật sư chúng tôi cho rằng chứng cứ buộc tội rất cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, là cơ sở quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng kết luận hành vi của một người có hay không phạm tội. Như vậy, bạn có thể cung cấp cho cơ quan công an những nội dung sau: vật chứng (có thể bao gồm tài liệu, băng ghi âm, ghi hình); lời khai về vụ việc của người làm chứng, của những người bị hại để họ tiến hành xác minh, làm rõ hành vi và các chứng cứ liên quan, từ đó có cơ sở để khởi tố vụ án hình sự khi hành vi của người cho vay có dấu hiệu phạm tội.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

----------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN: