1. Nhà nước pháp quyền là gì?

Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp để điều chỉnh các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội và pháp luật giữ vai trò tối cao. Nhà nước pháp quyền quản lý và điều hành xã hội bằng pháp luật, dùng pháp luật làm công cụ điều tiết chủ yếu mối quan hệ giữa con người với con người, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện lạm dụng từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương. Đó là nhà nước mà mọi tổ chức, kể cả tổ chức Đảng đều hoạt động dựa cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước công dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều phải có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật. Tất cả mọi người không loại trừ ai (kể cả những người ban hành pháp luật) cũng phải chịu sự chi phối của pháp luật. 

Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó xác định  rõ trách nhiệm của cả hai bên: nhà nước và công dân trên cơ sở pháp luật, quyền của nhà nước là nghĩa vụ của công dân, quyền của công dân là nghĩa vụ của nhà nước.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó quyền lực nhà nước được thực hiện theo cơ chế quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phù hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền : hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước có những hình thức giám sát, kiểm tra, thanh tra, xét xử  có hiệu quả việc thực hiện pháp luật và có một hệ thống tài phán hoàn chỉnh (của cả cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính).

Nhà nước pháp quyền là nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn là nhà nước thống nhất của các dân tộc, dân chủ thực sự, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân.

2. Thực trạng văn hóa pháp luật

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi cấp thiết, phù hợp với điều kiện phát triển khách quan của đất nước và xu thế chung của thời đại. Sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền này xuất phát từ hàng loạt các yêu cầu khách quan như bảo vệ, bảo đảm quyền tự do lợi ích của cá nhân, công dân...; tích cực tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.Trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, văn hóa pháp luật được đưa lên vị trí ưu tiên trong mọi hoạt động của xã hội. Việt Nam cần phải xây dựng một nền văn hóa pháp luật phù hợp, phải làm cho pháp luật của nước mình tương thích với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên hiện nay hệ thống pháp luật ở Việt Nam chưa theo kịp đòi hỏi của sự phát triển. Vì vậy, việc xây dựng văn hóa pháp luật, tạo thói quen sống và làm việc trong một xã hội có kỷ cương, pháp luật nghiêm minh là cực kỳ quan trọng.

Trước hết, cần phải nói rằng, văn hóa pháp luật là khái niệm phức tạp. Sự phức tạp là ở chỗ, nó nằm giữa ranh giới của lĩnh vực văn hóa học và luật học. Bởi thế, các nhà chuyên môn tùy theo góc độ tiếp cận, cũng có những cách nhìn nhận khác nhau đối với khái niệm này. Các nhà văn hóa học xem văn hóa pháp luật là một bộ phận hợp thành hữu cơ của hệ thống các quan niệm giá trị, chuẩn mực, hành vi văn hóa của một cộng đồng dân tộc. Còn các chuyên gia về luật học lại xem văn hóa pháp luật như là sự mở rộng phạm vi tiếp cận của luật so sánh. Vì vậy, một số tác giả mặc nhiên coi văn hóa pháp luật là văn hóa pháp lý hay văn hóa tư pháp. Quan niệm này, tuy có những “hạt nhân hợp lý”, nhưng không tránh khỏi phiến diện. Bởi lẽ,  pháp lý với tư cách là một khoa học về luật có nhiệm vụ soi rọi những nguyên lý của luật pháp. Nó cũng thường được xem là nghề nghiên cứu, là hàn lâm. Cũng như  thế, tư pháp có  thể hiểu là hệ thống tòa án, không bao hàm mọi hiện tượng pháp luật nói chung. Để tiện cho việc xem xét đánh giá, cần thống nhất cách hiểu về khái niệm này. Văn hóa pháp luật (legal culture) không phải là thuật ngữ của giới luật học thuần túy (tựa như khế ước, nghĩa vụ, lỗi, hành vi hay chế tài), mà là một đại lượng gắn liền với xã hội học pháp luật  hoặc nhân chủng học có liên quan đến pháp luật. Trước đây, nó thường được coi là một yếu tố của triết học pháp quyền. Nhìn chung, có thể hiểu văn hóa pháp luật là một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học văn hóa, khoa học hành vi, cách tư duy, ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng đồng và tộc người. Văn hóa pháp luật là những thang giá trị và công cụ nghiên cứu; là quan niệm, giá trị, mong đợi và thái độ của xã hội đối với các hiện tượng luật pháp. Quan niệm về văn hóa pháp luật nêu trên giúp chúng ta hiểu rõ tương  tác của pháp luật với quy phạm xã hội và những nền tảng văn hóa khác của một tộc  người (sinh hoạt kinh tế, chính trị, xã hội, các tập tục ăn, ở, cưới hỏi, ma chay, lễ hội, các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, thói quen tổ chức cộng đồng...).  Là một bộ phận của văn hóa nói chung, văn hóa pháp luật có thể xem như một lĩnh vực, một cấp độ thể hiện của văn hóa trong sự biến đổi không ngừng. Trình độ văn hóa pháp luật của một quốc gia là một nấc thang trong quá trình phát triển không ngừng của văn hóa dân tộc, đánh dấu mức độ phát triển của dân chủ và văn minh quốc gia. 

3. Một số biện pháp xây dựng văn hóa pháp luật 

Một là, cần xác định rõ những đặc trưng xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng. Một số ý kiến cho rằng, nếu chỉ dựa trên cơ sở tính pháp chế và dân chủ thì bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng như các biện pháp xây dựng văn hóa pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay đề chưa rõ. Hơn nữa, khi nền kinh tế - tức cơ sở hạ tầng mới chỉ là định hướng xã hội chủ nghĩa, thì nhà nước - tức kiến trúc thượng tầng có thể gọi là xã hội chủ nghĩa được không hay cũng chỉ mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa? Đó là vấn đề đặt ra cần được lý giải một cách khoa học. Chính vì trong lịch sử chưa từng có một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đích thực, cho nên trong lý luận về nhà nước pháp quyền vẫn còn một mảng trống mà chúng ta cần bổ sung và phát triển.

Hai là, cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cần làm sáng tỏ “tính độc lập tương đối” của mỗi quyền, sự chế ước lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm quyền lực không bị tha hóa và bị lạm dụng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tránh chồng chéo cũng như tránh lạm quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Ba là, làm sáng tỏ hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Vấn đề đặt ra là chỉ ra được phạm vi tác động của Đảng cầm quyền đối với các cơ quan quyền lực nhà nước, chỉ rõ sự tối cao của pháp luật, tránh sự can thiệp tùy tiện của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, tránh sự bao biện, ôm đồm, không tôn trọng luật pháp.

Bốn là, làm rõ cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân, của Mặt trận, của các đoàn thể chính trị - xã hội đối với hoạt động của Nhà nước. Sở dĩ vấn đề này được đặt ra là vì, mọi quyền hành chỉ thuộc về nhân dân khi có một cơ chế thích hợp để nhân dân có thể trực tiếp giám sát các hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, cũng như giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước. Phải có cơ chế thích hợp để cử tri có thể bày tỏ sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của mình đối với các đại biểu mà mình bầu ra, tạo điều kiện để các đại biểu gắn bó hơn với cử tri, đề cao ý thức trách nhiệm của người đại diện nhân dân.

Năm là, đổi mới tư duy pháp lý trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta. Mặc dầu trong gần 30 năm đổi mới toàn diện của đất nước, chúng ta đã có nhiều đổi mới trong lĩnh vực lập pháp, song hệ thống luật pháp của chúng ta cho đến nay vẫn tỏ ra chưa theo kịp thực tiễn và còn nhiều bất cập. Do vậy, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra một cách cấp thiết hơn, nhằm xây dựng hệ thống luật pháp của Việt Nam một cách hoàn chỉnh và ổn định hơn, làm cơ sở cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

4. Xây dựng văn hóa pháp luật dựa trên những nét riêng biệt của từng lĩnh vực

Ta có thể dựa trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp để xây dựng văn hóa pháp luật để đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế.

4.1. Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực lập pháp

Một trong những đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền là pháp luật giữ vai trò thống trị trong đời sống xã hội mà nguyên tắc cốt lõi phải được đề cao là thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Do đó, trong lĩnh vực lập pháp, việc thiết lập văn hóa pháp luật, văn hóa Hiến pháp được xem là sợi chỉ đỏ, là “cấu trúc nền” để vận hành, thực thi những nguyên tắc, nhiệm vụ trong Nhà nước pháp quyền. Để xây dựng được văn hóa Hiến pháp, điều kiện tiên quyết là phải chuyển tải được những giá trị nhân văn, tiến bộ, văn minh vào trong bản Hiến pháp quốc gia. Đồng thời, khi những giá trị ấy đã được văn kiện có giá trị pháp lý tối cao ghi nhận thì cần phải có các cơ chế hợp lý đảm bảo thực thi được những giá trị đó trong thực tế. Nếu như Hiến pháp được ví như một bản “khế ước” giữa Nhà nước và nhân dân thì văn hóa Hiến pháp được xem là cơ sở nền tảng đặc biệt quan trọng trong văn hóa pháp luật và có mối liên hệ hữu cơ, hợp thành văn hóa của một quốc gia. Khi nhìn vào hệ thống giá trị căn bản mà văn hóa Hiến pháp của đất nước đó thể hiện như: Quyền dân sự, chính trị, xã hội và văn hóa của con người; chủ quyền nhân dân; nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước; cơ chế bảo hiến; mối quan hệ về quyền, nghĩa vụ giữa Nhà nước và nhân dân... người ta có thể đánh giá, đo lường được phần nào về trình độ văn minh, dân chủ, tiến bộ xã hội.

4.2. Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hành pháp

Trong Nhà nước pháp quyền, mỗi cơ quan nhà nước đều đảm nhận một vai trò, vị trí hiến định. Nếu Quốc hội có chức năng cơ bản là lập hiến và lập pháp, Tòa án có thẩm quyền xét xử các hành vi vi phạm pháp luật thì vai trò của các cơ quan hành pháp là đề xuất chính sách, pháp luật và tổ chức thi hành chính sách, pháp luật. Do đó, theo nghĩa rộng, hành pháp sẽ bao gồm cả việc đề xuất, khởi xướng, định hướng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách[6]. Vì vậy, văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hành pháp cũng thể hiện thông qua hai khía cạnh sau:  Văn hóa trong xây dựng chính sách, pháp luật;  Văn hóa công vụ.

Trong quá trình đề xuất, xây dựng chính sách, pháp luật, đòi hỏi các cơ quan hành pháp không chỉ tiến hành đúng thẩm quyền, quy trình theo luật định mà còn phải đảm bảo tính dân chủ, sự tham gia của nhân dân và các đoàn thể chính trị - xã hội vào quá trình góp ý, tham vấn, phản biện xã hội. Để làm được điều đó, một mặt, phải xây dựng được thể chế, phương thức và quy trình để nhân dân tham gia vào việc cho ý kiến đối với các chính sách, pháp luật; mặt khác, người dân cũng cần phải nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, tăng cường sự chủ động, tích cực vào công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Bên cạnh đó, để đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống, các cơ quan hành pháp có một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tương đối đồ sộ. Chính vì vậy, thiết nghĩ, rất cần thiết hình thành và hoàn thiện nền văn hóa công vụ mang tính chuyên nghiệp ở cả hai góc độ: Nâng cao kỹ năng, năng lực công tác và đạo đức nghề nghiệp trong đội ngũ cán bộ, công chức; Thủ tục, quy trình cần phải minh bạch, công khai, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

4.3. Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực tư pháp

Đây có thể được xem là một lĩnh vực khá nhạy cảm vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền, tự do, thậm chí là tính mạng của một con người. Chính vì vậy, việc hình thành văn hóa pháp luật trong lĩnh vực này có những nét đặc thù nhất định, trong đó, cần phải đề cao tính công bằng, liêm chính, trung thực, khách quan trong xuyên suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Ngoài ra, trong lĩnh vực này, việc nhìn nhận về giá trị của văn hóa quyền con người càng phải được đặt lên trên và trước hết. Bởi lẽ, quyền con người trong thế giới ngày nay dần được thừa nhận như một giá trị phổ quát của văn hóa nhân loại và so với các lĩnh vực khác, đây là một lĩnh vực mà quyền con người dễ dàng bị tác động và xâm phạm nhất. Tạo lập văn hóa quyền con người ở mọi lĩnh vực nói chung và trong phạm vi hoạt động tư pháp nói riêng được xem là một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo nguyên tắc hiến định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Trong lĩnh vực kinh tế, pháp luật cần thiết phải tạo lập được một môi trường pháp lý và một khuôn khổ thích hợp, cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở đây các quy định pháp luật về chế độ sở hữu, về các quan hệ thị trường, về quy tắc kinh doanh, cách thức ứng xử trong đời sống kinh tế, cách giải quyết tranh chấp phát sinh phải thể hiện được các quy luật khách quan của kinh tế thị trường đồng thời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế đất nước. Do vậy các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, phương pháp điều trị của pháp luật dân sự đòi hỏi phải được quán triệt trong chế độ pháp lý của nền kinh tế.