- 1. Bước thứ nhất: Tập hợp, rà soát, phân loại các quy phạm pháp luật
- 2. Bước hai: Xây dựng cấu trúc của chủ để trong bộ pháp điển, "làm sạch" các quy phạm pháp luật được pháp điển
- 3. Bước thứ ba: Tiến hành pháp điển hóa
- 4. Bước thứ tư: Cơ quan ban hành văn bản ký xác thực kết quả pháp điển hóa
- 5. Bước thứ năm: Thẩm định kết quả xây dựng chủ đề của bộ pháp điển
- 6. Bước thứ sáu: Thông qua chủ đề của bộ pháp điển
- 7. Bước thứ bảy: Công bố bộ pháp điển
1. Bước thứ nhất: Tập hợp, rà soát, phân loại các quy phạm pháp luật
Trên cơ sở đã xác định được cấp độ và chủ đề của bộ pháp điển, cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm tập hợp, rà soát các quy phạm pháp luật thuộc phạm vi chủ đề của bộ pháp điển. Phạm vi tập hợp, rà soát là toàn bộ quy phạm pháp luật nằm rải rác trong các văn bản được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thuộc phạm vi chủ để của bộ pháp điển, trừ Hiến pháp và văn bản của chính quyền địa phương. Đó là các quy phạm pháp luật trong luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thống tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thống tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thống tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước; nghị quyết liên tịch giữa ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thống tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Việc tập hợp, rà soát các quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực tại thời điểm rà soát, không bỏ sót bất kỳ quy phạm nào. Trong quá trình tập hợp, rà soát phải phân loại các quy phạm pháp luật theo các tiêu chí như loại văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành, ngành, lĩnh vực điều chỉnh,... để tiện cho việc sắp xếp, đưa vào bộ pháp điển sau này.
Trong quá trình rà soát phải phát hiện, đánh dấu/ghi chú những nội dung không chứa quy phạm pháp luật nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật, chẳng hạn như phần tên cơ quan ban hành, tiêu ngữ, phần mở đầu, phần chữ ký của người có thẩm quyền,... Đồng thời, việc rà soát phải phát hiện, đánh dấu/ghi chú những quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp với thực tiễn để phục vụ cho các bước tiếp theo của quá trình pháp điển hóa.
2. Bước hai: Xây dựng cấu trúc của chủ để trong bộ pháp điển, "làm sạch" các quy phạm pháp luật được pháp điển
Ở bước này, căn cứ vào cấu trúc chung của bộ pháp điển đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, cơ quan tiến hành pháp điển xây dựng cấu trúc của chủ đề do mình chịu trách nhiệm pháp điển hóa. Chẳng hạn, tùy theo chủ đề, cơ quan tiến hành pháp điển xác định cụ thể có đơn vị bố cục phần hoặc có đơn vị bố cục là các mục trong chương hay không,...
Sau khi tiến hành tập hợp, rà soát, phân loại các quy phạm pháp luật, công đoạn tiếp theo rất quan trọng là tiến hành xử lý, 'Làm sạch" các quy phạm pháp luật để đưa vào cấu trúc của bộ pháp điển. Việc xử lý, "làm sạch" quy phạm pháp luật gồm các kỹ thuật sau đây:
- Hợp nhất văn bản: Mục đích của hoạt động này là loại bỏ các điều khoản trong các văn bản được ban hành trước và đã bị thay thê' sửa đổi bằng các văn bản ban hành sau. Theo đó, đối với những văn bản sửa đổi, bổ sung, cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản gốc để bảo đảm những quy phạm được đưa vào bộ pháp điển luôn là quy phạm còn hiệu lực thi hành;
- Loại bỏ những nội dung không chứa quy phạm pháp luật nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật: Trong văn bản quy phạm pháp luật không phải nội dung nào cũng chứa quy phạm, chẳng hạn như phần tên cơ quan ban hành, tiêu ngữ, phần mở đầu, phần chữ ký của người có thẩm quyền, v.v. Vì vậy, cần loại bỏ những nội dung này để bảo đảm các quy định trong bộ pháp điển luôn là các quy phạm pháp luật.
3. Bước thứ ba: Tiến hành pháp điển hóa
Việc pháp điển hóa được thực hiện bởi hai công đoạn. Công đoạn thứ nhất là sắp xếp, kết nối các quy phạm pháp luật để đưa vào cấu trúc của bộ pháp điển. Công đoạn thứ hai là tiến hành pháp điển hóa các điều khoản cụ thể. Do bộ pháp điển và các văn bản quy phạm pháp luật khác có chung đơn vị bố cục là điều, nên cần có ký hiệu riêng để có sự phân biệt rõ ràng.
- Công đoạn sắp xếp, kết nối các quy phạm để đưa vào bộ pháp điển:
Sắp xếp quy phạm pháp luật để đưa vào bộ pháp điển là công đoạn quan trọng, khó, phức tạp và tốn nhiều thời gian, công sức nhất trong quá trình pháp điển hóa. Đây là quá trình sắp xếp, kết nối các quy phạm pháp luật hiện hành với nhau vào cấu trúc bộ pháp điển, đó là chủ đề, phần, chương, mục, điều, khoản. Việc sắp xếp, ghép nối các quy phạm pháp luật với nhau vào trong bộ pháp điên đòi hỏi tầm nhìn bao quát, tổng quan của bộ pháp điển và sự rà soát tỉ mỉ tất cả các quy phạm pháp luật được pháp điển hóa.
Quá trình sắp xếp các quy phạm pháp luật vào cấu trúc của bộ pháp điển không chỉ đơn thuần là sự sao chép lại, lắp ghép một cách cơ học các quy phạm hiện hành vào bộ pháp điển mà phải tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa các quy phạm cả về mặt không gian và thời gian. Sự gắn bó chặt chẽ về mặt không gian bảo đảm các quy phạm được kết nối với nhau một cách logic, tránh sự phủ nhận lẫn nhau giữa các quy phạm, loại bỏ những điểm mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp giữa chúng. Sự gắn bó về mặt thời gian giữa các quy phạm bảo đảm sự tương đồng về mặt thời gian giữa quy phạm được ban hành mới và các quy phạm bị thay thế hoặc bị đề nghị hủy bỏ trong quá trình pháp điển hóa.
- Công đoạn pháp điển hóa các điều khoản cụ thể:
Đây là một công việc mang tính chất kỹ thuật nhưng cũng thể hiện năng lực và sự sáng tạo của người làm công tác pháp điển. Việc pháp điển hóa các điều khoản cụ thể được thực hiện trên cơ sở căn cứ vào các nguyên tắc được trình bày ở phần trên và có thể được làm với trình tự các bước khác nhau để kết quả cuối cùng thu được là một bộ pháp điển có các điều khoản được thiết kế rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và được sắp xếp một cách logic, hợp lý.
4. Bước thứ tư: Cơ quan ban hành văn bản ký xác thực kết quả pháp điển hóa
Sau khi thực hiện xong bước thứ ba, cơ quan trực tiếp thực hiện pháp điển trinh cơ quan ban hành văn bản để cơ quan này thực hiện các động tác sau đây:
- Xem xét, xử lý những kiến nghị, đề xuất được ghi lại trong quá trình pháp điển hóa về những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp, thiếu sót,., của quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của mình. Việc xử lý những khuyến nghị, đề xuất về những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo được thực hiện theo trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật thông thường. Sau khi có những sửa đổi, bổ sung này, cơ quan thực hiện pháp điển hóa sẽ tiếp tục hợp nhất, "làm sạch" và cập nhật những quy phạm pháp luật này vào bộ pháp điển theo các bước nêu trên. Trường hợp cơ quan ban hành văn bản không có bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung nào, tức là những khuyến nghị, đề xuất của quá trình pháp điển hóa không được chấp thuận, thì các quy phạm pháp luật dù chồng chéo, mâu thuẫn cũng vẫn phải giữ nguyên trạng khi đưa vào bộ pháp điển;
- Ký xác thực các quy phạm pháp luật đã được pháp điển thuộc thẩm quyền ban hành của mình. Việc ký xác thực các quy phạm pháp luật đã được đưa vào bộ pháp điển của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tuyên bố chính thức về tính chính xác, đầy đủ, đang có hiệu lực pháp luật của các quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm ban hành của cơ quan đó. Điều này được hiểu rằng, đây là cam kết của cơ quan ban hành văn bản khẳng định sau tuyên bố này, tất cả những quy phạm pháp luật do một cơ quan ban hành mà không được đưa vào bộ pháp điển sẽ không có giá trị (khi bộ pháp điển có hiệu lực). Chính vì có bước ký xác thực này nên việc thông qua toàn bộ chủ đề của bộ pháp điển sau này chỉ đơn thuần là việc thông qua/phê chuẩn kết quả của quá trình pháp điển hóa, chứ không phải thống qua các quy phạm trong bộ pháp điển đó.
5. Bước thứ năm: Thẩm định kết quả xây dựng chủ đề của bộ pháp điển
Ở giai đoạn này, cơ quan pháp điển hóa quốc gia tiến hành xem xét, thẩm định kết quả xây dựng chủ đề của bộ pháp điển của các cơ quan thực hiện pháp điển. Nội dung xem xét, thẩm định tập trung vào những vấn đề sau đây:
- Sự tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng chủ đề;
- Sự phù hợp của vị trí quy phạm trong từng phần của chủ đề;
- Sự chính xác, đầy đủ của quy phạm pháp luật trong chủ đề;
- Tính chính xác của việc chỉ dẫn, dẫn chiêu của các quy phạm pháp luật trong chủ đề;
- Các vấn đề khác liên quan đến nội dung của chủ đề.
6. Bước thứ sáu: Thông qua chủ đề của bộ pháp điển
Trên cơ sở ý kiến thẩm định của cơ quan pháp điển hóa quốc gia về chủ đề của bộ pháp điển, cơ quan thực hiện pháp điển tiến hành chỉnh lý, hoàn thiện chủ đề của bộ pháp điển. Chủ đề của bộ pháp điển sau khi được chỉnh lý, hoàn thiện phải được gửi đến cơ quan ban hành văn bản để xin ý kiến và trình cơ quan có thẩm quyền thông qua. Về việc thông qua chủ đề của bộ pháp điển, có thể theo các phương án như sau:
Phương án thứ nhất, do chủ đề của bộ pháp điển gồm nhiều văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc giá trị pháp lý khác nhau nên thuận tiện nhất là giao cho các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản tương ứng thống qua từng phần thuộc trách nhiệm của mình trong chủ đề. Chẳng hạn, Quốc hội thông qua phần quy phạm do Quốc hội ban hành, Chính phủ thông qua phần quy phạm do Chính phủ ban hành.... Phương án này có ưu điểm là vẫn bảo đảm được thẩm quyền ban hành văn bản và thẩm quyền thông qua các quy phạm pháp điển hóa của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là thời gian thống qua các chủ đề sẽ kéo dài, vì nội dung một chủ đề liên quan đến rất nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau.
Phương án thứ hai, nên giao cho một cơ quan có thẩm quyền thông qua/phê duyệt chủ đề của bộ pháp điển, chẳng hạn như Quốc hội hoặc Chính phủ. Tuy nhiên, trong điều kiện Quốc hội nước ta làm việc không thường xuyên, mỗi năm hợp hai kỳ với thời gian mỗi kỳ hợp không thể kéo quá dài, đa số đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách thì giao cho Quốc hội thông qua chủ đề bộ pháp điển là cần cân nhắc. Vì vậy, có thể giao cho ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ phê chuẩn chủ đề của bộ pháp điển.
7. Bước thứ bảy: Công bố bộ pháp điển
Sau khi chủ đề của bộ pháp điển được cơ quan có thẩm quyền thông qua, cơ quan pháp điển hóa có trách nhiệm sắp xếp vào đúng vị trí trong bộ pháp điển và đăng tải trên trang thông tin điện tử về pháp điển.
Bộ pháp điển sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn và ban hành, với ý nghĩa như một tuyên bố chính thức của Nhà nước Việt Nam về toàn bộ hệ thống quy định pháp luật (ở các cơ quan trung ương) có hiệu lực thi hành tại Việt Nam tại một thời điểm xác định. Cơ quan áp dụng pháp luật chỉ cần dựa trên bộ pháp điển để hành xử và đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật. Cơ quan xây dựng văn bản pháp luật dựa trên bộ pháp điển có thể nhận biết tình trạng pháp lý toàn bộ quy định pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm thi hành của mình và kịp thời để xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp. Như vậy, sản phẩm của quá trình pháp điển hóa là bộ pháp điển sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua sẽ có giá trị pháp lý và được sử dụng như nguồn văn bản gốc.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)