1. Quan điểm của các nước trên thế giới về pháp điển hóa

Pháp điển hóa là khái niệm đã tổn tại trong khoa học pháp lý từ khá lâu, tuy vậy, tùy thuộc vào đặc điểm của từng hệ thống pháp luật, điều kiện cụ thể của từng giai đoạn, từng thời kỳ mà cách hiểu về vấn đề này cũng còn nhiều điểm khác nhau.

Thuật ngữ "pháp điển hóa" ("codification") có gốc là một từ Latinh "Codex" - là sách đóng gáy - một phát minh của người La Mã nhằm thay thế cho sách ống cuộn trước đó. Như vậy, pháp điển hóa từ thời cổ đại có nghĩa là, tập hợp các văn bản pháp lý có cùng một chủ đề dưới hình thức một "Codex"- cuốn sách.

Tuy nhiên, lịch sử của pháp điển hóa còn lâu đời hơn, có từ Bộ luật Hammurabi cách đây gần 4.000 năm (khoảng thập niên 1760 TCN). Sau đó, vào thế kỷ V trước Công nguyên (năm 450 TCN), xuất hiện Luật 12 tâm bảng Lex Duodecim Tabularum”) ở La Mã cổ đại. Vào thế kỷ VI sau Công nguyên, Hoàng đế La Mã Justinian chủ trì biên soạn bộ luật La Mã. Thời đó, luật La Mã cổ đại tập trung vào lĩnh vực dân luật, tức là luật tư mà bỏ qua luật công. Trong nhiều thế kỷ, ở các nước châu Âu lục địa, nơi tiếp tục truyền thống của luật La Mã, các luật gia cũng đã gạt luật công sang một bên, vì cho rằng, các luật này lẫn lộn với chính trị và không khác nhiều với khoa học quản trị hành chính. Do xu hướng chú trọng dân luật nên có người giải thích rằng, những nước sau này chịu ảnh hưởng của luật La Mã đều được gọi là các nước dân luật ("civil law"). Kết quả là ở các nước dân luật, bộ luật dân sự là văn bản trung tâm, hạt nhân của hệ thống pháp luật, tạo nên nền tảng cho tư duy và phương pháp luận pháp lý.

Về các trường hợp pháp điển hóa nổi tiếng, trước hết phải kể đến các Bộ luật của Napoleon, trong đó Bộ luật dân sự Pháp (1804) là Bộ luật đầu tiên có hình dạng như ngày nay trong các nước dân luật. Đây là bộ luật kinh điển, được soạn thảo với một phong cách và ngôn ngữ tuyệt diệu. Bộ luật dân sự Pháp đã tập hợp gần 14 ngàn văn bản do Chính phủ cách mạng tư sản ban hành từ năm 1789, tỉnh lược chúng vào ba phần: Địa vị pháp lý cá nhân; Tài sản; Các quyền và nghĩa vụ. Rene David, một học giả người Pháp nhận định, pháp điển hóa thời kỳ cách mạng Pháp đã kết thúc quá trình tiến hóa nhiều thế kỷ của khoa học pháp lý, thể hiện luật pháp thích hợp với lợi ích của xã hội một cách rõ ràng, khác với sự rối rắm của bộ luật La Mã. Pháp điển hóa đã chấm dứt nhiều tàn tích cổ hủ của luật pháp, những tập quán cản trở thực tế trước đó. Do đó, Bộ luật Napoleon có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Đến giữa thế kỷ XX, đã có trên 70 nước chịu ảnh hưởng của Bộ luật này.

Tiếp theo Bộ luật Napoleon của Pháp, Đức cũng biên soạn Bộ luật dân sự viết tắt là BGB với năm phần: Các nguyên tắc chung, Luật về trái vụ, Luật tài sản, Luật gia đình và Luật thừa kế. Đây được coi là hạt nhân của hệ thống dân luật ở Đức, là một bộ luật thống nhất, tổng quát, hiện đại nhất thời đó, nhưng ngôn ngữ rất chuyên sâu, trừu tượng, khó hiểu với người không có chuyên môn về pháp luật. Sau này, BGB được tiếp thu học hỏi ở một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hy Lạp.

Có thể nói, việc xây dựng các bộ luật lớn, đồ sộ, có tính pháp điển hóa cao đã phát triển cực thịnh vào khoảng thế kỷ thứ XIX (tiêu biểu như ở Pháp, Đức), nhưng trong giai đoạn hiện nay, nhiều quốc gia đang đi theo xu thế xây dựng các bộ pháp điển không cần hoặc đòi hỏi sự can thiệp rất hạn chế từ phía cơ quan lập pháp. Trách nhiệm pháp điển hóa được giao cho một cơ quan chuyên môn thực hiện và có thể được cơ quan có thẩm quyền thông qua trong trường hợp cần thiết. Đơn cử như ở Pháp, việc chuẩn bị các bộ luật, bộ pháp điển do các bộ thuộc Chính phủ chủ trì dưới sự giám sát của ủy ban cấp cao về pháp điển hóa do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch. Ở Hoa Kỳ, các bộ pháp điển về từng lĩnh vực do một cơ quan thuộc bộ máy của Hạ nghị viện gồm các luật gia được Nhà nước trả lương tiên hành. Các bộ pháp điển được cập nhật thường xuyên và xuất bản lại sau mỗi 6 năm (bản điện tử được cập nhật sau 18 tháng, kể từ khi luật được Quốc hội thông qua). Một số quyển trong bộ pháp điển có thể được Quốc hội chính thức thông qua và trở thành đạo luật có giá trị đầy đủ.

Như vậy, dù xuất hiện ở các quốc gia khác nhau với những đặc điểm, tính chất, phương pháp thực hiện khác nhau, nhưng cơ bản về lý thuyết có hai loại pháp điện hóa:

Thứ nhất, pháp điện hóa có mục tiêu duy nhất là công thức hóa và hệ thống hóa những luật lệ đang có hiệu lực.

Theo đó, hoạt động pháp điển hóa đom giản là việc tập hợp, sắp xếp và hệ thống lại các quy định pháp luật theo những tiêu chí nhất định để tiện cho việc tra cứu và sử dụng (ví dụ như các bộ tổng tập, tuyển tập, hệ thống hóa văn bản pháp luật);

Thứ hai, pháp điện hóa là phương tiện để đạt tới những mục tiêu cải cách xã hội. Do đó, hoạt động pháp điển hóa phải gắn với việc tiến hành sửa đổi những quy định chồng chéo, lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp, đồng thời bổ sung những quy định mới phù hợp với thực tiễn. Sản phẩm cuối cùng của quá trình pháp điển hóa là các bộ luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

 

2. Phân loại pháp điển hóa

Xét về phạm vi, quy mô và mức độ điều chỉnh, pháp điển hóa có những loại hình sau:

- Pháp điển hóa tổng thể (toàn bộ hệ thống pháp luật): Là loại hình pháp điển hóa ở cấp độ cao nhất, có quy mô lớn nhất và kết quả của quá trình này là những bộ pháp điển được ban hành để điều chỉnh tất cả các quan hệ tương ứng với các ngành luật cơ bản của một hệ thống pháp luật;

- Pháp điển hóa theo lĩnh vực pháp luật (ngành luật): Là loại hình pháp điển hóa được thực hiện trong từng ngành luật nhất định. Tùy theo yêu cầu và mục đích cụ thể đặt ra, quá trình pháp điển hóa được tiến hành ở quy mô, mức độ thích hợp và kết quả của nó là những bộ luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ của từng lĩnh vực tương ứng;

- Pháp điển hóa chuyên biệt (chuyên ngành): Là cấp độ thấp hơn so với hai loại hình trên và kết quả của nó là các bộ luật chuyên ngành được ban hành với hệ thống các chế định, nguyên tắc, quy phạm pháp luật có tính chuyên ngành cao. Các nguyên tắc, quy phạm pháp luật trong một bộ luật chuyên ngành có thể điều chỉnh các quan hệ thuộc một số ngành luật có liên quan.

 

3. Điểm chung của các quan điểm về pháp điển hóa

Từ thực tiễn nghiên cứu việc pháp điển hóa ở các quốc gia khác nhau có thể thấy một cách tổng quan như sau:

Thứ nhất, tuy có nhiều quan điểm, phương pháp, mô hình pháp điển hóa khác nhau, nhưng mục tiêu chung của pháp điển hóa đều hướng tới việc tìm kiếm, tra cứu pháp luật được dễ dàng, thuận lợi. Việc lựa chọn cách làm pháp điển hóa nào phụ thuộc vào truyền thống lịch sử, hệ thống pháp luật, kỹ thuật lập pháp, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, nhưng có một yếu tố tác động hết sức quan trọng chính là khả năng kinh tế. Có thể nói, pháp điển hóa là một công việc tốn kém cả về thời gian, công sức, nhân lực, vật lực và tài lực, nêu không có sự đầu tư hiệu quả, lựa chọn phương pháp pháp điển hóa phù hợp với khả năng kinh tế, tài chính của quốc gia thì việc pháp điển hóa chỉ có thể dừng lại ở lý thuyết mà không thể khả thi;

Thứ hai, mỗi hình thức pháp điển hóa đều tương ứng với một loại sản phẩm đầu ra, đó là bộ luật hay bộ pháp điển;

Thứ ba, có thể thấy rõ đối với các nước có hệ thống hóa pháp luật phát triển thì xu hướng pháp điển hóa nhằm xây dựng các bộ luật đã trải qua giai đoạn phát triển cực thịnh vào khoảng thế kỷ thứ XIX, còn trong giai đoạn hiện nay, đa số các nước này (bao gồm cả Pháp, Đức, Hoa Kỳ là các quốc gia đại diện cho các truyền thống pháp luật khác nhau) đều đi theo xu hướng xây dựng các bộ pháp điển (phục vụ chủ yêu cho mục đích tiện tra cứu) mà không còn tập trung vào các bộ luật;

Thứ tư, cho dù tiếp cận pháp điển hóa ở góc độ nào thì các quốc gia đều có thiết chế riêng chịu trách nhiệm về công tác pháp điển hóa.

 

4. Một số quan điểm về hệ thống hóa, pháp điển hóa ở Việt Nam

Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Pháp điển hóa là một dạng hoạt động làm luật, có thể đưa đến việc ban hành một văn bản pháp luật mới có tính chất tổng hợp (Ví dụ Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích định nghĩa này cụ thể hơn: "Pháp điển hóa là việc xây dựng một bộ luật, đạo luật trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành, loại bỏ các quy định không phù hợp, bổ sung, dự liệu những quy định đáp ứng sự điều chỉnh pháp luật đối với những quan hệ xã hội đang phát triển. Pháp điển hóa là một dạng hoạt động làm luật, có thể đưa đến việc ban hành một văn bản pháp luật mới có tính chất tổng hợp".

Một số quan điểm khác lại cho rằng pháp điển hóa là tập hợp các quy định của các văn bản lập pháp (luật, pháp lệnh, v.v.) và văn bản lập quy (nghị định, quyết định, v.v.) liên quan đêh một ngành, một lĩnh vực và sắp xếp thành một hệ thông thuận tiện cho việc tra cứu các quy định mà vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý và hiệu lực. Pháp điển hóa giúp cho việc tra cứu, tìm hiểu pháp luật được thuận tiện và góp phần phát hiện các mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu sót để đề nghị sửa đổi, bổ sung.

Như vậy, quan niệm về vấn đề này vẫn còn nhiều khác biệt. Dưới đây là một số quan điểm phổ biên về công tác pháp điển hóa tại Việt Nam:

- Quan điểm pháp điển hóa truyền thông, coi hoạt động pháp điển hóa là hoạt động lập pháp do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện và sản phẩm pháp điển hóa là các bộ luật, luật hoàn chỉnh:

Theo quan điểm này, pháp điển hóa được coi là một hoạt động lập pháp với kết quả cuối cùng là một văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời, có mức độ tổng hợp, khái quát cao (thường là bộ luật hoặc các đạo luật có phạm vi điều chỉnh rộng, với nhiều chương, điều, khoản, điểm). Với cách hiểu này, ở Việt Nam, pháp điển hóa được coi như một truyền thống lâu đời, tổn tại cùng với lịch sử phát triển của dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử Nhà nước phong kiến Việt Nam, đã xuất hiện một số công trình pháp điển hóa quan trọng như: bộ "Hình thư" được ban hành dưới thời nhà Lý, bộ "Hình luật thư" được ban hành dưới thời nhà Trần, bộ "Quốc triều hình luật" (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) ban hành dưới thời nhà Lê và bộ "Hoàng Việt luật lệ" (hay còn gọi là Bộ luật Gia Long) của triều Nguyễn. Mặc dù ra đời vào những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng các bộ luật này có đặc điểm chung đều là kết quả của một quá trình mang tính hệ thống hóa; các quy định được lựa chọn, phân loại, sắp xếp theo chương mục trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các quy định của các triều đại trước đó, có khi là cả các quy định của nước ngoài để ban hành thành một văn bản pháp luật thống nhất. Nói tóm lại, các văn bản nói trên đều có dáng dấp của một sản phẩm pháp điển hóa ở mức độ cao, đó là các bộ luật như cách hiểu hiện nay.

Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập (tháng 9-1945) đến nay, truyền thông pháp điển hóa này được tiếp tục kế thừa và phát triển. Hiện tại, tổng số luật, pháp lệnh được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành qua các thời kỳ khác nhau gồm 371 luật, 217 pháp lệnh (phần lớn có quy mô gồm nhiều chương, mục, điều, khoản cụ thể), chưa kể các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các bộ, ngành, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành. Trong số này phải kể đến một số bộ luật lớn, quan trọng, có giá trị như các công trình pháp điển hóa tương đối hoàn chỉnh về từng ngành luật như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hàng hải. Bên cạnh đó, cũng có nhiều đạo luật tuy không được gọi là bộ luật nhưng có quy mô và mức độ phức tạp tương đương, ví dụ như Luật đất đai, Luật doanh nghiệp, Luật hàng không dân dụng Việt Nam, Luật thương mại, Luật bảo vệ môi trường, V.V..

Như vậy, quan niệm truyền thông coi pháp điển hóa là một hoạt động lập pháp với kết quả cuối cùng là một văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành có mức độ tổng hợp, khái quát cao.

- Quan điểm coi pháp điển hóa là hoạt động tập hợp, rà soát, so sánh, đối chiếu, căn chỉnh, loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, đã hết hiệu lực thi hành để xuất bản các tổng tập quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực:

Đây là một quan điểm mới tiếp cận vấn đề' pháp điển hóa hoàn toàn dưới góc độ kỹ thuật, coi đó như một tập hợp các công việc cụ thể được tiến hành nhằm mục đích làm cho hệ thống pháp luật ngày càng trở nên tiện dụng, thân thiện với người dân. Quan điểm này tán thành phương pháp pháp điển hóa như một số nước đã thực hiện, đó là tập hợp, rà soát, so sánh, đối chiều, căn chỉnh, loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo đã hết hiệu lực thi hành để xuất bản các tổng tập hệ thống hóa về các ngành luật, các lĩnh vực cụ thể”.

Cách nhìn nhận hoạt động pháp điển hóa dưới góc độ là một hoạt động chuyên môn nhằm sắp xếp, hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể có thể làm đơn giản hóa công tác này; góp phần bảo đảm sự phù hợp và trật tự pháp lý của tất cả các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực liên quan; giúp chỉ ra những nội dung còn thiếu, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu minh bạch, cần được bổ sung, hướng dẫn hoặc quy định chi tiết; tạo cơ sở cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.

 

5. Quan niệm về pháp điển hóa đang được nghiên cứu lựa chọn áp dụng tại Việt Nam

Như phần trên đã trình bày, ở Việt Nam hiện đang tồn tại hai quan điểm, hai cách làm về pháp điển hóa. Với quan điểm truyền thống coi pháp điển hóa là một hoạt động lập pháp và sản phẩm cuối cùng là một đạo luật thì phương thức pháp điển hóa này hiện nay vẫn là một phần trong hoạt động lập pháp của Quốc hội. Chẳng hạn, một số bộ luật cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện như Bộ luật lao động, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự... Việc áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật cũng là một phương thức pháp điển hóa nhằm đưa các quy phạm cẩn phải sửa đổi, bổ sung ở các văn bản pháp luật khác nhau vào một văn bản để dễ tiếp cận theo dõi và thuận tiện trong quá trình xây dựng pháp luật. Phương pháp này có ưu điểm là Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, ban hành các bộ luật, hon nữa, văn bản được Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thông qua nên có giá trị pháp lý cao, không gây nhiều tranh cãi trong quá trình áp dụng, dẫn chiếu pháp luật. Tuy vậy, việc áp dụng phương pháp truyền thống này cũng gặp phải những khó khăn, thách thức không nhỏ. Cụ thể là:

Thứ nhất, việc ban hành các bộ luật có phạm vi điều chỉnh rộng tạo ra không ít vấn đề phức tạp trong giải quyết mối quan hệ giữa luật khung và luật chuyên ngành, về hiệu lực áp dụng của chúng khi điều chỉnh một quan hệ xã hội. Hơn nữa, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi các đạo luật ban hành phải cụ thể, chi tiết, có giá trị thi hành ngay, hạn chế tối đa các văn bản hướng dẫn. Như vậy, các nhà làm luật sẽ phải giải một bài toán khó là xây dựng các bộ luật có phạm vi điều chỉnh rộng, đồng thời, các quy phạm lại phải cụ thể, chi tiết để khi ban hành có thể áp dụng được ngay. Đây có vẻ là một bài toán không có lời giải trước thực trạng hệ thống pháp luật, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và kỹ thuật lập pháp ở nước ta hiện nay;

Thứ hai, một vấn đề khác cần cân nhắc là tính ổn định trong xây dựng các bộ luật và các đạo luật lớn thường rất phức tạp. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung các văn bản này cũng phức tạp không kém. Vì vậy, người ta thường lựa chọn những vấn đề đã tương đối ổn định để pháp điển hóa. Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các quan hệ xã hội đang trong quá trình vận động, thay đổi; khả năng dự báo, "đi tắt, đón đầu" trong hoạch định chính sách, pháp luật còn hạn chế; kỹ thuật lập pháp còn nhiều vấn đề phải tiếp tục hoàn thiện. Trong bối cảnh đó, nêu không thận trọng trong việc lựa chọn vấn đề pháp điển hóa thì hệ thống pháp luật có thể bị cắt vụn bởi những văn bản sửa đổi, bô’ sung. Hơn thế nữa, việc liên tục sửa đổi, bô’ sung các bộ luật còn là một sự lãng phí rất lớn về công sức, thời gian và tiền bạc.

Với quan điểm tiếp cận pháp điển hóa dưới góc độ kỹ thuật, pháp điển hóa được coi là việc thu thập, tổ chức, công bố", cập nhật liên tục toàn bộ các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành trong một bộ pháp điển được sắp xếp theo đề mục. Theo hướng này, hiện nay ở Việt Nam đã tiến hành thí điểm xây dựng Bộ pháp điển về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và Bộ pháp điển về quyền sở hữu trí tuệ.

Phương pháp tiếp cận pháp điển hóa dưới góc độ kỹ thuật có một số ưu điểm như:

+ Ít tốn kém về thời gian, công sức và tiền của so với việc xây dựng các bộ luật lớn;

+ Có tính khả thi, phù hợp với trình độ làm luật hiện nay, ít đòi hỏi sự can thiệp, chỉ đạo của các cơ quan làm chính sách;

+ Linh hoạt, dễ cập nhật và nhanh chóng thích nghi, phù hợp với điều kiện hạ tầng xã hội vẫn đang biến chuyển liên tục như hiện nay.

Như vậy, ở Việt Nam hiện đang tồn tại song song hai quan điểm, hai cách hiểu pháp điển hóa khác nhau và mỗi cách có những ưu, nhược điểm riêng. Trước yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân hiện nay, cám phải có quan điểm đầy đủ, toàn diện và thống nhất về pháp điển hóa. Không thể phủ nhận vai trò của hoạt động pháp điển hóa truyền thống với việc cho ra đời nhiều bộ luật có giá trị. Tuy nhiên, trong điều kiện các quan hệ xã hội thay đổi liên tục, nhanh chóng, đòi hỏi các nhà lập pháp phải có những phản ứng nhanh nhạy, phù hợp và trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi người dân chỉ biết luật, tuân thủ và làm theo luật thì cần phải có cách tiếp cận mới về hoàn thiện hệ thống pháp luật. Thực tế cho thấy, việc xây dựng những luật, bộ luật đồ sộ thường gặp nhiều khó khăn và tốn rất nhiều thời gian; quy trình thảo luận, xem xét, thông qua cũng như sửa đổi, bổ sung tại Quốc hội hoàn toàn không đơn giản. Các đạo luật thường dừng lại ở mức độ luật khung, thiếu các quy định chi tiết, rõ ràng. Trong khi đó, ở nước ta, có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật và trên thực tế, nhiều khi giá trị thực thi của các văn bản này vượt quá cả luật, làm trầm trọng thêm tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo của hệ thống pháp luật. Từ thực tiễn đó, có thể thâỳ, phương pháp tiếp cận vấn để pháp điển hóa ở Việt Nam dưới góc độ kỹ thuật nhằm làm cho hệ thống pháp luật ngày càng trở nên tiện dụng, thân thiện với người dân là hiệu quả và có tính khả thi cao.

Luật hóa nhu cầu này của thực tiễn, Điều 93 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã đặt nền móng ban đầu định hướng phát triển hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam với quy định: "Quy phạm pháp luật phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp thành bộ pháp điển theo từng chủ đề. Việc pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật do ủy ban thường vụ Quốc hội quy định". Điều 169 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã quy định rõ hơn một bước: "Cơ quan nhà nước sắp xếp các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển. Việc pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy. định của ủy ban thường vụ Quốc hội".

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)