Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Thông tư 36/2012/TT-BLĐTBXH

Thông tư 25/2013/TT-BLĐTBXH

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động

Thông tư 17/2015/TT-BLĐTBXH

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội

>> Xem thêm:  Công ty cho nghỉ việc và bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động?

II. Nội dung tư vấn:

 em vao cong ty lam việc từ năm 2008 đến nay , cty không năm nào có chế độ thanh toán phep năm cho cong nhân và nhân viên , mà được cộng dồn sang nam sau. Tính đến nay đa số cong nhân sản xuất còn trên 30 đến 40 ngày phép nam của 2015 trở về truoc. Phép năm được tính bằng cách này có được không ạ Cám ơn anh/ chị !

Điều 111 Bộ luật lao động quy định về nghỉ hằng năm như sau:

“Điều 111. Nghỉ hằng năm

1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.”

Như vậy thấy rằng với quy định trên thì người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Đối với trường hợp người lao động chưa làm đủ 12 tháng cho người sử dụng lao động thì chưa được tính để nghỉ phép năm.

Bên cạnh đó còn có quy định tại Điều 114 Bộ luật lao động :

 "1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.

>> Xem thêm:  Bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài

 2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền".

Như vậy, theo quy định trên thì người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Trường hợp người lao động không nghỉ hàng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc nghỉ hàng năm.

Với các quy định về nghỉ phép năm như vậy thì tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động là tiền lương theo quy định tại khoản 2, 3, 4 điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP như sau:

"2. Tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hằng năm tại Điều 111; ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc tại Điều 112; ngày nghỉ lễ, tết tại Điều 115 và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương tại Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề, chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày người lao động nghỉ hằng năm, nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng có hưởng lương.

3. Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm tại Điều 114 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

a) Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm. Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm;

b) Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc.

4. Tiền lương tính trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm là tiền lương quy định tại Khoản 3 Điều này chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm."

Theo quy định trên thì việc tính phép năm cho người lao động cần căn cứ vào tiền lương mà người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động ký kết giữa 2 bên. 

Đối với người lao động có thời gian làm việc trên 6 tháng thì tính tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề trước đó, dưới 6 tháng thì tiền lương làm căn cứ tính là tiền lương bình quân của toàn bộ thời gian làm việc. 

>> Xem thêm:  Hợp đồng lao động là gì ? Xác định loại hợp đồng lao động có ý nghĩa như thế nào ?

Tiền lương của 1 ngày phép năm chưa nghỉ được thanh toán sẽ bằng tiền lương bình quân nêu trên chia cho số ngày làm việc bình thường của tháng trước liền kề thời điểm tính.

Nếu trong hợp đồng lao động ký kết giữa 2 bên thỏa thuận lương của người lao động sẽ bằng mức lương cơ sở của doanh nghiệp nhân với hệ số lương của người lao động, thì đây là căn cứ tính tiền phép năm cho người lao động.

tôi làm hóa nghiệm cho một công ty nước sạch .tôi làm về các chỉ tiêu của nước phải làm việc và tiếp xúc với hóa chất nhưng không có chế độ độc hại .cho tôi hỏi tôi có được hưởng chế độ độc hại không và được hưởng thì theo thông tư nào. tư vấn giúp tôi với. cảm ơn rất nhiều!

Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật lao động 2012: “Người làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại được người sử dụng lao động bồi dưỡng bằng hiện vật theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội”. Nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại được quy định trong Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được quy định tại thông tư 36/2012/TT-BLĐTBXH (Bạn có thể xem trong link:Thông tư 36/2012/TT-BLĐTBXH )

Theo khoản 2 Thông tư 25/2013/TT-BLĐTBXH

"Điều 2. Điều kiện được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và mức bồi dưỡng

1. Người lao động được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật khi có đủ các điều kiện sau:

a) Làm các nghề, công việc thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành;

b) Đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định của Bộ Y tế hoặc trực tiếp tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm.

Việc xác định các yếu tố quy định tại điểm b Khoản 1 Điều này phải được thực hiện bởi đơn vị đủ điều kiện đo, kiểm tra môi trường lao động theo quy định của Bộ Y tế”

Theo khoản 1 Điều 11 Thông tư 17/2015/TT-BLĐTBXH:

>> Xem thêm:  Lái xe của hợp tác xã trên 45 tuổi mới vào làm thì đóng bảo hiểm như thế nào ?

“1. Chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

a) Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được áp dụng đối với người lao động làm nghề, công việc có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

b) Công ty rà soát phân loại điều kiện lao động theo quy định tại Điều 6 Thông tư này, so sánh mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của nghề, công việc với điều kiện lao động bình thường để xác định mức phụ cấp, bảo đảm: Mức phụ cấp đối với nghề, công việc có điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thấp nhất bằng 5% và cao nhất bằng 10%; nghề, công việc có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thấp nhất bằng nhất 7% và cao nhất 15% so với mức lương của nghề hoặc công việc có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường.

c) Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được tính trả cùng kỳ trả lương hàng tháng theo thời gian thực tế làm công việc có điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Làm việc dưới 4 giờ trong ngày thì được tính bằng 1/2 ngày, làm việc từ 4 giờ trở lên thì được tính cả ngày.”

Vậy, nếu thuộc 1 trong các trường hợp nêu trên sẽ được hưởng trợ cấp nặng nhọc, độc hại.

Xin chào luật sư! Em có thắc mắc xin luật sư tư vấn giúp em ạ! Em làm công ty được gần 3 năm, vừa rồi vừa hết hợp đồng cũ thì em ký hợp đồng mới từ 01.03.2016 đến 01.03.2017. Nhưng đầu tháng 04.2016 thì em xin nghĩ thai sản và đầu tháng 10 này em làm lại. Vậy luật sư cho em hỏi em có được lãnh tiền thưởng tết khi làm 6 tháng không? Em xin cảm ơn!

Khi bạn nghỉ thai sản thì bạn sẽ được cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả các khoản trợ cấp thai sản. 

Đối với vấn đề thưởng tết, thì Bộ luật lao động 2012 có quy định tại điều 103, Bộ luật lao động 2012, cụ thể:

"Điều 103. Tiền thưởng

1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.".

>> Xem thêm:  Công ty có được giữ lương khi người lao động tự ý nghỉ việc không?

Như vậy, tiền thưởng tết, việc có khoản tiền này hay không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động, và phụ thuộc vào quy chế, quy định nội bộ của công ty. 

E tên ntnd. E có một van de nho luật su tu van E đang có cviec ở trong nam. Và e muốn nhờ bạn e lấy dum so bảo hiểm Cty. E phải làm giấy ủy quyền như the nao.tai vì mỗi người một noi. K thể làm uỷ quyền ca nhan được. E nho luật su tu van dum e ạk

Căn cứ theo quy định tại Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội 2014: Trách nhiệm của người sử dụng lao động:

"1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật........ “

Theo quy định của pháp luật thì đối với cơ quan, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì người sử dụng động phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng cho người lao động trích từ tiền lương của người lao động, giữ và bảo quản sổ cho người lao động. Ngoài ra, khi người lao động nghỉ việc thì bên phía người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trả sổ cho người lao động.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 5 Điều 63 Quyết định 1111/2011/QĐ-BHXH thì “Sổ BHXH đã xác nhận thời gian đóng BHXH nhưng người lao động không nhận thì sau 12 tháng kể từ khi xác nhận sổ đơn vị phải chuyển cho cơ quan BHXH để lưu trữ. Khi người lao động có yêu cầu thì trả lại sổ BHXH cho người lao động.”

Như vậy:

>> Xem thêm:  Người lao động đi làm việc ở nước ngoài được hỗ trợ ra sao ?

+ Nếu người lao động mới nghỉ việc ở công ty cũ chưa quá 12 tháng thì có thể ủy quyền cho người khác lên công ty cũ để nhận lại sổ BHXH.

+ Nếu nghỉ việc ở công ty cũ hơn 12 tháng thì người được bạn ủy quyền phải lên cơ quan bảo hiểm nơi công ty cũ của người lao động có trụ sở để làm thủ tục nhận lại sổ bảo hiểm.

Việc ủy quyền phải bằng văn bản tức giữa người lao động và người được ủy quyền thì phải có một hợp đồng ủy quyền và hợp đồng này phải được công chứng tại văn phòng công chứng hoặc UBND xã/phường. Sau khi có giấy ủy quyền thì người được ủy quyền có thể thay mặt người lao động tham gia các giao dịch dân sự cũng như việc thay người lao động đến lấy sổ bảo hiểm.

Về cách thức lập giấy ủy quyền, chúng tôi đã có bài viết tư vấn về cách thức lập giấy ủy quyền chi tiết và cụ thể, mời bạn tham khảo trong link sau đây: 

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Xin luật sư tư giúp em thắc mắc này. Nghỉ dưỡng sức sau sinh chỉ áp dụng cho trường hợp sức khỏe yếu còn sức khỏe bình thường không được nghỉ phải không luật sư? Khi viết giấy nghỉ dưỡng sức có cần nộp giấy tờ chứng minh sức khỏe yếu không Luật Sư. 

Căn cứ theo quy định tại Điều 41 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản:

“1. Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 ngày đến 10 ngày.

Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

2. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:

a) Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;

b) Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;

>> Xem thêm:  Trách nhiệm của công ty khi trả sổ bảo hiểm muộn khiến người lao động không nhận được tiền bảo hiểm thấ nghiệp ?

c) Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.

3. Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở”.

Như vậy, trường hợp của bạn nếu được công ty đồng ý thì đủ điều kiện hưởng chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi sinh con theo quy định khoản 1 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Và thời gian nghỉ dưỡng sức sẽ phụ thuộc vào tình trạng của bạn, cụ thể:

+) Nếu sinh đôi trở lên thì thời gian nghỉ tối đa là 10 ngày;

+) Nếu sinh con phải phẫu thuật thì được nghỉ tối đa 07 ngày;

+) Nếu sinh thường và sinh một con thì được nghỉ tối đa 05 ngày.

Lưu ý: Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết và ngày nghỉ hàng tuần. Và mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cách tính lương cho người lao động và phụ cấp thu hút theo quy định của pháp luật ?

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn, giải đáp thắc mắc pháp lý về tiền lương ?