Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách an sinh quan trọng nhằm bảo đảm thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động trước các rủi ro trong quá trình làm việc và khi hết tuổi lao động. Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung để mở rộng phạm vi bảo vệ và nâng cao quyền lợi cho người dân. Việc xác định đầy đủ các đối tượng tham gia BHXH theo quy định mới nhất có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo đảm thực hiện đúng nghĩa vụ pháp lý. Do đó, việc tổng hợp và hệ thống hóa các nhóm đối tượng tham gia BHXH là cần thiết để giúp người lao động và người sử dụng lao động áp dụng thống nhất, hiệu quả.
1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là gì?
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là những chủ thể có quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Đây là những người có sự ràng buộc về trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm và được hưởng các chế độ khi gặp rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập. Việc xác định đúng đối tượng tham gia giúp bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách an sinh. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để cơ quan quản lý thực hiện việc thu, chi và giải quyết chế độ đúng quy định. Vì vậy, khái niệm này giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ hệ thống bảo hiểm xã hội.
Dưới góc độ pháp lý, đối tượng tham gia được phân loại theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện nhằm phù hợp với điều kiện lao động và khả năng đóng góp của từng nhóm trong xã hội. Sự phân loại này thể hiện nguyên tắc chia sẻ rủi ro và tương trợ cộng đồng, bảo đảm mọi người đều có cơ hội tiếp cận chính sách bảo hiểm. Thông qua cơ chế tham gia, quyền lợi của người tham gia được bảo vệ ổn định và lâu dài khi phát sinh các sự kiện bảo hiểm. Đồng thời, trách nhiệm đóng góp cũng góp phần duy trì sự bền vững của quỹ bảo hiểm xã hội. Qua đó, bảo hiểm xã hội khẳng định vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh của Nhà nước.
2. Các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định tại khoản1, khoản 2, khoản 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 (Luật BHXH 2024) như sau:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Người lao động là công dân Việt Nam được xác định là lực lượng trung tâm của hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc theo khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2024. Đối tượng này bao gồm người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Quy định cho thấy Nhà nước dựa trên bản chất quan hệ lao động có trả công và sự quản lý của người sử dụng lao động để xác lập nghĩa vụ tham gia. Cách tiếp cận này bảo đảm mọi lao động có thu nhập ổn định đều được bảo vệ an sinh, không phụ thuộc hình thức hợp đồng.
Bên cạnh nhóm lao động truyền thống, luật còn mở rộng sang các chủ thể đặc thù như người đi làm việc ở nước ngoài, dân quân thường trực, người hoạt động không chuyên trách cấp xã, chủ hộ kinh doanh và người quản lý doanh nghiệp kể cả không hưởng lương. Sự mở rộng này phản ánh xu hướng bao phủ cả khu vực phi chính thức và nhóm lao động linh hoạt, vốn dễ bị bỏ sót trước đây. Việc bổ sung các nhóm này góp phần hạn chế tình trạng trốn đóng hoặc né tránh nghĩa vụ BHXH. Qua đó, chính sách BHXH tiến gần hơn đến mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân và công bằng xã hội.
- Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên phải tham gia BHXH bắt buộc. Quy định này thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa lao động trong nước và lao động nước ngoài khi cùng tham gia quan hệ lao động tại Việt Nam. Việc tham gia giúp người lao động nước ngoài được bảo đảm quyền lợi về ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và hưu trí. Đồng thời, điều này cũng tăng tính ổn định của thị trường lao động và hạn chế cạnh tranh không lành mạnh về chi phí lao động.
Tuy nhiên, pháp luật vẫn thiết lập một số trường hợp loại trừ như di chuyển nội bộ doanh nghiệp, người đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác. Những ngoại lệ này nhằm tránh trùng lặp chế độ bảo hiểm giữa các quốc gia và phù hợp với đặc thù lao động ngắn hạn. Cách thiết kế linh hoạt cho phép Việt Nam thực hiện cam kết hội nhập quốc tế mà vẫn bảo đảm chủ quyền chính sách an sinh. Qua đó, hệ thống BHXH vừa mở rộng bao phủ, vừa bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.
- Người sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
Người sử dụng lao động bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cả cá nhân có thuê mướn lao động theo hợp đồng. Quy định này xác định rõ chủ thể có trách nhiệm tổ chức đóng và trích nộp BHXH cho người lao động. Đây là cơ chế quan trọng bảo đảm tính bắt buộc của chính sách, bởi nghĩa vụ không chỉ đặt lên người lao động mà còn gắn với trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động. Nhờ đó, việc thu nộp BHXH được thực hiện tập trung và hiệu quả hơn.
Mặt khác, việc mở rộng đến cả hộ kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhỏ lẻ cho thấy pháp luật đã bao quát cả khu vực kinh tế phi chính thức. Điều này giúp hạn chế tình trạng “khoảng trống pháp lý” khi nhiều lao động làm việc nhưng không được đóng BHXH. Đồng thời, quy định còn tạo sự công bằng giữa các loại hình sử dụng lao động, tránh hiện tượng lách luật để giảm chi phí. Như vậy, trách nhiệm của người sử dụng lao động đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm quyền lợi an sinh và tính bền vững của quỹ BHXH.
3. Các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định tại khoản 4 Điêu 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2024. Căn cứ khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện bao gồm:
- Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và không đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc trợ cấp hằng tháng. Nhóm này chủ yếu là lao động khu vực phi chính thức như nông dân, lao động tự do, buôn bán nhỏ lẻ hoặc người làm việc không có hợp đồng lao động ổn định. Việc cho phép tham gia trên cơ sở tự nguyện thể hiện chính sách an sinh mở, tôn trọng quyền lựa chọn và khả năng tài chính của mỗi cá nhân.
- Trường hợp người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc cũng có thể chuyển sang tham gia BHXH tự nguyện, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận tiếp tục đóng bắt buộc. Quy định này nhằm bảo đảm tính liên tục của quá trình đóng BHXH, tránh đứt quãng thời gian tham gia làm ảnh hưởng đến điều kiện hưởng lương hưu sau này.
Đây là cơ chế phù hợp với các trường hợp nghỉ việc không lương, nghỉ thai sản dài hạn hoặc tạm thời ngừng công tác vì lý do cá nhân. Việc linh hoạt chuyển đổi giữa hai hình thức tham gia giúp người lao động duy trì quyền lợi an sinh ngay cả khi quan hệ lao động bị gián đoạn. Nhờ đó, hệ thống BHXH vừa bảo đảm tính bắt buộc khi cần thiết, vừa thích ứng với thực tiễn đa dạng của thị trường lao động hiện nay.
4. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội từ 1/7/2025
Theo Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, từ ngày 01/7/2025, việc thực hiện bảo hiểm xã hội tuân thủ nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa những người tham gia. Mức hưởng của bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng, bảo đảm tính công bằng và tương xứng quyền lợi. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc căn cứ vào tiền lương làm căn cứ đóng, còn bảo hiểm xã hội tự nguyện dựa trên thu nhập do người tham gia lựa chọn. Quy định này tạo sự linh hoạt, phù hợp với từng nhóm lao động nhưng vẫn bảo đảm tính bền vững của quỹ. Đặc biệt, người vừa tham gia bắt buộc vừa tham gia tự nguyện được cộng dồn thời gian đóng để hưởng đầy đủ các chế độ hưu trí, trợ cấp hằng tháng và tử tuất.
Bên cạnh đó, thời gian đã được giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần sẽ không được tính lại để làm căn cứ hưởng các chế độ khác nhằm tránh trùng lặp quyền lợi. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập theo từng quỹ thành phần. Việc tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, thuận tiện, bảo đảm chi trả kịp thời và đầy đủ quyền lợi cho người tham gia. Thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu và trợ cấp tuất được tính theo năm, đủ 12 tháng là một năm và có quy tắc làm tròn tháng lẻ theo luật định. Việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội được áp dụng theo quy định pháp luật tại thời điểm hưởng, bảo đảm tính thống nhất và phù hợp thực tiễn.
Kết luận
Như vậy, các quy định mới về đối tượng tham gia BHXH đã thể hiện rõ định hướng mở rộng diện bao phủ và tăng cường tính toàn diện của hệ thống an sinh xã hội. Không chỉ người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, nhiều nhóm lao động khác cũng được đưa vào diện tham gia bắt buộc hoặc tự nguyện. Điều này góp phần bảo đảm công bằng và hạn chế khoảng trống bảo vệ trong thị trường lao động. Việc tham gia BHXH đầy đủ giúp người lao động được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất. Đồng thời, người sử dụng lao động cũng cần thực hiện nghiêm túc trách nhiệm đóng và quản lý BHXH cho người lao động theo đúng pháp luật. Sự tuân thủ này không chỉ tránh các rủi ro pháp lý mà còn xây dựng môi trường lao động ổn định, bền vững. Về phía người lao động, việc chủ động tìm hiểu và tham gia BHXH là cách tự bảo vệ quyền lợi lâu dài của bản thân. Qua đó, chính sách BHXH phát huy vai trò là trụ cột an sinh quan trọng của xã hội. Tổng hợp đầy đủ các đối tượng tham gia BHXH vì thế mang ý nghĩa thiết thực cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.