1. Khởi tố bị can và hỏi cung bị can

1.1 Khởi tố bị can

Khởi tố bị can là việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố hình sự một người hoặc một pháp nhân khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội.

Theo định nghĩa được nêu ở trên thì căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với một người hoặc một pháp nhân khi đã thu thập được chứng cứ để chứng minh về hành vi của họ có dấu hiệu tội phạm. Những chứng cứ mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập được về hành vi phạm tội của một cá nhân hay một phải nhân phải là những sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, phản ánh ở những nguồn và thu thập bằng những biện pháp của luật tố tụng hình sự, những tài liệu không thoả mãn các thuộc tính của chứng cứ không được dùng làm căn cứ để ra quyết định khởi tố bị can. Khi có đủ chứng cứ xác định người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị can.

Sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án. Cơ quan ra quyết định khởi tố bị can phải giao quyết định và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can, phải lập biên bản giao nhận và bị can phải ký vào biên bản.

Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can Cơ quan điều tra phải được gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra căn cứ theo Khoản 3 Điều 179. Đối với các trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.

Khi nhận giấy triệu tập, bị can phai ký nhận, có ghi rõ ngày, giờ nhận Nếu bị can không ký nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan điều tra. Nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho người thân thích của bị can có đủ năng lực, hành vi dân sự ký nhận và chuyển cho bị can (Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông qua ban giám thị trại giam.

Bị can sau khi nhận được giấy triệu tập phải có mặt theo giấy triệu tập. Trong trường hợp bị can vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì cơ quan Điều tra ra lệnh áp giải Quyết định này phải được đọc cho bị can nghe trước khi áp giải.

1.2 Hỏi cung bị can

Hỏi cung bị can là một trong các biện pháp điều tra thu thập chứng cử từ lời khai của bị can, do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can.

Biện pháp hỏi cung bị can chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố bị can và được tiến hành tại trụ sở của cơ quan Điều tra hoặc nơi ở của bị can. Biện pháp hỏi cung bị can do Điều tra viên quyết định và trực tiếp tiến hành, trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra trục tiếp tiến hành hỏi cung bị can.

Thủ tục hỏi cung bị can được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

- Trước khi tiến hành hỏi cung, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên có thể tham gia vào việc hỏi cung bị can.

- Trước khi tiến hành hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố bị can và giải thích cho bị can rõ quyền và nghĩa vụ của họ.

- Nếu vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không được để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình. Nếu bị can là người dưới 18 tuổi thì khi hỏi cũng phải có mặt của cha, mẹ hoặc người đỡ đầu hoặc người bào chữa hoặc các thầy cô giáo của bị can (người đại diện của người dưới 18 tuổi).

- Khi hỏi cung bị can cần giữ bí mật những chứng cử mà cơ quan điều tra đã thu thập được, không được để cho bị can biết Cơ quan điều tra đã thu thập được bao nhiêu chứng cứ và đó là những chứng cứ gì, nguồn của các chứng cứ đó.

- Không được tiến hành hỏi cung vào ban đêm trừ trường hợp không thể trì hoãn được (như cần truy bắt hoặc ngăn chặn tội phạm...) và khi tiến hành hỏi cung vào ban đêm thì Điều tra viên có trách nhiệm phải ghi rõ lý do vào biên bản.

- Khi tiến hành hỏi cung bị can, Điều tra viên chỉ được sử dụng các biện pháp hỏi cung mà Luật tố tụng hình sự quy định, không được bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can. Nếu bức cung hoặc dùng nhục hình thì Điều tra viên tuỳ theo mức độ vi phạm phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 298 hoặc Điều 299 Bộ luật Hình sự. Đúc rút từ kinh nghiệm thực tế, khoa học điều tra hình sự đã đưa ra các phương pháp hỏi cung vừa đảm bảo tính pháp lý đồng thời mang lại hiệu quả cao trong quá trình thu thập chứng cứ.

- Mỗi lần hỏi cung bị can, Điều tra viên phải lập biên bản. Biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và các câu trả lời.

- Sau khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trong những trường hợp có sửa chữa hoặc bổ sung biên bản thì bị can và Điều tra viên cùng ký tên xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang của biên bản. Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì bị can và điều tra viên cùng ký xác nhận vào lời khai đó.

- Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Nếu hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

- Trong trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thơi giải thích cho bị can biết được quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch và bị can cùng ký tên vào từng trang của biến bản hoi cung

Khi hỏi cung có mặt người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can thí điều tra viên phải giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện hợp pháp củng ký vào biên bản hỏi cung

- Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định.

2. Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án là biện pháp điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ nội dung lời khai của người này về các tình tiết của vụ án.

Trong đó:

- Người làm chứng là người biết về các tình tiết diễn biến của sự việc phạm tội và phải có nghĩa vụ trình bày những điều họ biết được về vụ án khi có yêu cầu của Cơ quan điều tra.

- Bị hại là cá nhân hoặc pháp nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do hành vi phạm tội gây ra, lời trinh bày của họ trước Cơ quan điều tra về những thiệt hại đó hoặc những tình tiết khác của vụ án mà họ biết được.

- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án là những người bị thiệt hại về vật chất hoặc tỉnh thần do hành vi phạm tội gây ra hoặc quyền lợi, nghĩa vụ của họ bị ảnh hưởng bởi các quyết định của tòa án Lời trình bày của họ trước Cơ quan điều tra về những thiệt hại đó hoặc những ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến họ.

3. Đối chất

Đối chất là biện pháp điều tra được áp dụng trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa những người tham gia tố tụng với nhau về cùng một vấn đề mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác mà chưa giải quyết được mẫu thuẫn nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.

Khi áp dụng biện pháp đối chất cần phải tiến hành các thủ tục sau đây:

- Trước khi Cơ quan điều tra tiến hành đổi chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đổi chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất Nếu Kiểm sát viên văng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất Đồng thời, Điều tra viên phải lấy lời khai của từng người và xác định mâu thuẫn cần phải làm sáng tỏ để đưa ra đổi chất.

- Nếu việc đổi chất có người làm chứng, người bị hại tham gia thì Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm của việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối, tuỳ theo mức độ mà có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Khi tiến hành đổi chất, Điều tra viên phải hỏi mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ những vấn đề cần làm sáng tỏ. Trong quá trình đổi chất, điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan. Sau khi nghe các lời khai trong đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người hoặc có thể cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau. Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã trả lời xong, Điều tra viên mới có thể nhắc lại lời khai mà họ đã khai trước đây nếu như xét thấy cần thiết để xác định nguyên nhân sự khác nhau giữa các lần khai của họ.

- Việc đối chất phải lập biên bản. Biên bản. Biên bản về việc đối chất được lập theo các quy định của pháp luật và có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.

4. Nhận dạng

Nhận dạng là biện pháp điều tra thu thập chứng cứ bằng cách đưa người, vật, ảnh cho người làm chứng, người bị hại, bị can quan sát và nhận xét để xác nhận, vật, ảnh mà họ đã nhìn thấy trước đây.

Thủ tục nhận dạng được quy định như sau:

- Việc nhận dạng có thể được tiến hành khi cần thiết, Điều tra viên có thể mời người hoặc đưa vật, ảnh cho người làm chứng, người bị hại, bị can nhận dạng. Để đảm bảo cho việc nhận dạng đạt kết quả, cơ quan điều tra chỉ tiến hành nhận dạng khi thật cần thiết và là biện pháp tối ưu nhất để gaiir quyết yêu cầu điều tra đặt ra.

- Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận dạng.

- Khi nhận dạng, Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.

Số người, vật, anh, đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài phải tương tự giống nhau. Đối với việc nhận dạng tử thi thì không áp dụng quy định này.

- Nếu người làm chứng hoặc người bị hại là người nhận dạng, thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai bảo gian dối thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Việc giải thích đó phải được ghi vào biên bản.

- Trong khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một anh, một vật trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích căn cứ vào các tình tiết hoặc đặc điểm gì mà họ xác nhận người, anh hay vật đó.

Việc tiến hành nhận dạng phảo có người chứng kiến.

5. Nhận biết giọng nói

Nhận biết giọng nói là biện pháp điều tra thu thập chứng cứ bằng cách để người bị hại, người làm chứng, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị can nhận biết giọng nói nhằm xác nhận đối tượng nghi vấn.

Nhận biết giọng nói được tiến hành theo thủ tục sau:

- Khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói Số giọng nói được đưa ra để nhận biết ít nhất phải là ba và phải có âm sắc, âm lượng tương tự nhau.

- Trước khi tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận biết giọng nói.

- Những người phải tham gia việc nhận biết giọng nói Giám định viên về âm thanh, Người được yêu cầu nhận biết giọng nói, Người được đưa ra để nhận biết giọng nói, trừ trường hợp việc nhận biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm, Người chứng kiến.

- Nếu người làm chứng, bị hại được yêu cầu nhận biết giọng nói thì trước khi tiến hành Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm của việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.

- Điều tra viên phải hỏi trước người được yêu cầu nhận biết giọng nói về những đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận biết được giọng nói. Trong quá trình tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người được yêu cầu nhận biết giọng nói đã xác nhận được tiếng nói trong số giọng nói được đưa ra thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào đặc điểm gì mà xác nhận giọng nói đó.

- Biên bản nhận biết giọng nói được lập theo quy định tại Điều 178 của BLTTHS năm 2015 và phải ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người được yêu cầu nhận biết giọng nous và của những người được đưa ra để nhận biết giọng nói.

6. Khám nghiệm hiện trường

Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra thu thập chứng cứ thông qua việc xem xét, phát hiện, thu giữ những chứng cứ, tài liệu, dấu vết phạm tội tại nơi xảy ra sự việc phạm tội hoặc nơi phát hiện tội phạm.

Khi khám nghiệm hiện trường, điều tra viên tiến hành chụp ảnh, vẽ Sơ đô, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật tài liệu có liên quan đến vụ án, ghi rõ kết quả vào biên bản khám nghiệm hiện trường. Khám nghiệm hiện trường phải lập biên bản, Biên bản khám nghiệm hiện trường phải theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

7. Khám nghiệm tử thi

Khám nghiệm tử thi là biện pháp điều tra thu thập chứng cứ thông qua việc tìm kiếm, phát hiện dấu vết tội phạm từ từ thi.

Biện pháp khám nghiệm tử thi được áp dụng đối với vụ án có tử thi mà cần phải xác định nguyên nhân cái chết hoặc những dấu vết tội phạm từ từ thi. Có thể được tiến hành khám nghiệm đối với tử thi chưa hoặc đã được chôn cất nếu xét thấy cần thiết. Trong trường hợp này phải khai quật tử thi. Khi tiến hành khám nghiệm tử thi điều tra viên phải do giám định viên pháp y tiến hành dưới sự chủ trì của điều tra viên tiến hành và phải Có người chứng kiến.

8. Xem xét dấu vết thân thể

Xem xét dấu vết trên thân thể là biện pháp điều tra nhằm phát hiện dấu vết tội phạm hoặc dấu vết khác có liên quan đến vụ án hình sự trên thân thể người bị xem xét.

Việc khám xét dấu vết trên thân thể phải được tiến hành ở nơi kín đảo, người tiến hành khám xét và người chứng kiến phải là người cùng giới với người bị xem xét thân thể. Khi xem xét dấu vết trên thân thể không được xúc phạm đến nhân phẩm, sức khoẻ người bị áp dụng biện pháp khảm xét trên thân thể.

9. Thực nghiệm điều tra

Thực nghiệm điều tra là biện pháp điều tra thu thập chứng cứ thông qua việc dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống khi xảy ra tội phạm hoặc diễn lại tình tiết khác của một sự việc nhất định, nhằm kiểm tra, xác minh những tình tiết, tài liệu có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự.

Hoạt động giám định trong vụ án hình sự được tiến hành khi có những căn cứ sau:

- Nguyên nhân dẫn đến chết người chưa được xác định, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động

- Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ.

- Tình trạng về tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức hoặc khai báo đúng đắn của họ đối với những tình tiết của vụ án.

- Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu khẳng định chính xác tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó.

- Mức độ ô nhiễm môi trường.

- Chất độc, chất ma túy, chất phóng xạ, tiền giả, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, vàng bạc, kim khí quí, đá qui, đồ cổ.

- Những trường hợp cần thiết khác cần phải giám định trong quá trình giải quyết vụ án.

10. Định giá tài sản

Định giá tài sản là biện pháp điều tra của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát khi thấy cần thiết phải có kết luận định giá tài sản về một vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự đang được tiến hành giải quyết

Luật Minh Khuê