NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Các học thuyết thần quyền ở Tây Âu

1.1 Tổng quát chung về học thuyết thần quyền:

Với sức mạnh kinh tế, chính trị và sự thống trị về tinh thần của mình, nhà thờ thiên chúa giáo mưu toan bắt các lãnh chúa phong kiến quý tộc, và toàn xã hội phải quy phục và lệ thuộc vào mình. Các giáo hội tích cực tuyên truỳên các học thuyết thần quyền nhằm thông trị thế giới. Một trong Những học thuyết được phố’ biến rộng rãi là “học thuyết mặt trời và mặt trăng”, trong đó cho rằng “mặt trăng tỏa sáng nhờ mặt trời, vương quyên chói sáng nhờ giáo hoàng”. Thuyết lý “hai gươm” cũng được phố' biến rộng rãi, theo đó nhà Vua có được gươm báu của mình là chính quyền, nhờ có giáo hội và do đó cũng phải phục tùng giáo hội.

Việc sử dụng các học thuyết thần quyền vào mục đích chính trị, trọng cuộc đấu tranh giành quyền bính giữa các giáo hoàng La Mã và các hoàng đế đó chính là cuộc đấu tranh giữa các tập đoàn phong kiến thống trị khác nhau. Nhưng cả nhà thờ và giới phong kiến đêu có mục tiêu chống lại các phong trào đấu tranh của qùân chúng nhân dân bị áp bức. Nhà thờ thiên chúa giáo giúp đỡ phong kiến quý tộc đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, còn các hoàng đê' thì ủng hộ nhà thờ đấu tranh chống các phòng trào “tà đạo”.

1.2 Học thuyết thần quyền của Tômál Đacanh

Đại biểu của tư tưởng thần quyền thời kỳ này là Tômál Đacanh (1225 - 1274), nhà tư tưởng lớn nhất của Thiên chúa giáo dòng Đôminích, đã cố gắng biện minh cho những giáo điều Thiên Chúa giáo nhăm khẳng định tư tương mới cho chế độ phong kiến chống lại sự phê phán của phái tà giáo thế kỷ X - XIII.

Tômát Đacanh cho răng, thế giới được xây dựng trên cơ sở tôn ti trật tự thánh thần, trong đó các hình thức tối cao đem sức sống cho hình thức thấp nhất. Đứng đầu tôn ti trật tự đó là Chúa, thực thể quy định nguyên tắc phục tùng của đẳng cấp dưới đốì với đẳng cấp trên. Chính ở đây ông đã thần thánh hóa chế độ đẳng cấp phong kiến.

Là một nhà duy tâm, Tômát Đacanh phân biệt thần luật và nhân luật. Thần luật chỉ ra con đường “đạt tới sự cực lạc chôn thiên đường”, còn nhân luật quy định trật tự đời sống xã hội nơi trân tục. Trong tác phẩm “Thần học toàn như” Tômát đã phân chia pháp luật thành bốn loại:

  • “Luật, vĩnh cửu” được Tômát gọi là “chính trí tuệ của Chúa Điều hành thế giới”, và khẳng định rằng luật này là cơ sở tự nhiên và xã hội, của trật tự toàn thế giới.
  • “Luật tự nhiên” được coi là “sự phản chiếu của luật, vĩnh cứu bàng lý trí con người” và bao gồm mong muốn tự bảo tồn, kế tục dòng giống và quy luật chung sống của con người.
  • “Nhân luật” (luật hành văn) hay gọi là luật thực định là pháp luật phong kiến hiện hành được coi là sự phản ánh các đòi hỏi của luật tự nhiên, không được phản tự nhiên.
  • “Thần luật hay luật báo ứng” được Tôniát Đacanh dành cho kinh thánh.

Để bảo vệ chế độ nhà thờ thiên chúa giáo nhăm thu phục giai cấp phong kiến quý tộc, Tômát cho ràng, khi một nhà quân chủ vi phạm các đạo luật của nhà thờ thì nhà thờ có quyền lật đổ ông ta, còn các thần dân có nghĩa vụ tuân thủ giáo hội.

Những luật thuyết của Tômát về Nhà nưởc cũng nhằm mục đích đó, bảo vệ chế độ nhà thờ thiên chúa giáo. “Bản chất của chính quyền” tức là trật tự điều hành và tuân thủ là do Chúa định; chính với ý nghĩa này Tômát đã luận giải thuyết giáo của tông đồ Paven “mọi chính quyền là do Chúa”. Song, Tô mát tiếp tục thuyết lý, rằng không phải vì thế mà mỗi vị quân chủ quý tộc đ'êu có thể trực tiếp trở thành thánh thần; cũng do đó không phải mọi hành động của vị quân chủ đêu mang “tính chất thánh thần”. Một quận công có thể trở thành kẻ tiếm quyền, chuyên chế, điên rồ. Trong trường hợp này, luận điểm vê tính hợp pháp của nguồn gốc và việc sử dụng quyền lực của quận công này thuộc về nhà thờ. Do đó, học thuyết của Tô mát Đacanh về “ba yếu tố quyền lực đã tạo nên sự biện giải tinh tế cho học thuyết thân quyền.

Tômát Đacanh phân biệt các thể chế quân chủ, quý tộc, tập đoàn thống trị và chuyên quyền với biến dạng là nên dân chủ. Coi chế độ quân chủ.là hình thức cao nhất. Tômát Đacanh ưu tiên cho Nhà nước với “hình thức kết hợp” giữa thiết chế quân chủ, quý tộc và dân chủ. Lý tưởng của ông là chế độ quân phủ phong kiến với vai trò khá lớn của hội đÔng các đại phong kiến (bao gồm cả “các giáo hoàng”); các yếu tố dân chủ được Tômát Đacanh coi là nhà thờ có khả năng kêu gọi thần dân lật đổ “tên độc tài” khi cần thiết.

Học thuyết phản động của Tômát Đacanh được các tư tưởng gia của nhiều thời đại tiếp thu, sử dụng như một thứ vũ khí tư tưởng phản động đấu tranh chống lại tiến trình phát triển của nhân loại, bảo vệ lợi ích của nhà thờ, tăng quyền can thiệp của nhà thờ vào đời sống chính trị, Nhà nước và xã hội.

2. Sự xuất hiện của tư tưởng thị dân và phong trào “tà giáo”

2.1 Tư tưởng hình thành từ thế kỷ X đến đầu TK XIV

Vào thế kỷ XII - XIV cùng với sự phát triển của thương mại và thủ công ờ một loạt các nước Tây Âu diễn ra quá trình đô thị hóa. Cư dân nhiêu đô thị đã giành được độc lập khỏi các lãnh chúa phong kiến, họ tích cực ủng hộ triều đình phong kiến Trung ương tập quýền, chông phong kiến địa phương cát cứ, chống lại tham vọng tiếm quyên của nhà thờ thiên chúa giáo.

Vào thế kỷ XII, đã xuất hiện các luật gia - ngữ vị - những người đã lên tiếng ủng hộ triều đình trong cuộc đấu tranh ngày càng tăng, chống lại sự cát cứ phong kiến và mưu toan của nhà thờ thiên chúa giáo thâm nhập vào công việc của chính quyền quý tộc.

Với tác phẩm “người bảo vệ hòa bình” (1324), Mácxili Paduan hiệu trưởng trường đại học tổng hợp Pari cương quyết chống lại các học thuyết thần quyền, ông coi sự thâm nhập của nhà thờ vào đời sống chính trị, vào các công việc Nhà nước là nguyên nhân gây mất ổn định ở các quốc gia Châu Àu, nhất là Italia, không có hòa bình, Mácxili cho răng nhà thờ không có quyền thâm nhập vào “cộng việc đời thường”. Giáo hội chỉ có quyền răn dạy, truỳên bá giáo lý Thiên Chúa giáo, nhưng không thể ép buộc chỉ có Chúa mới có thể trừng phạt những người vi phạm “luật thánh”, vì Chúa là người định ra luật đó, chứ không phải giáo hội. Từ quan niệm đó, ông phân biệt giữa thần luật và nhân luật, nhà thờ chỉ có trách nhiêm đối với thần luật, còn nhân luật (luật thực định) phải do nhân dân lập ra và họ là người có quyền lựa chọn cho mình một vị quân chủ. Vê Nhà nước, theo Macxili, hình thức Nhà nước hoàn hảo nhất là “chế độ quân chủ do bầu cử”, trong đó nhân dân thông qua các đạo luật và tự lựa chọn vị quân chủ trị vì suốt đời.

Phong trào “tà giáo” ở Tây Âu được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn từ thế kỷ X - XIII; giai đoạn XIV - XV.

Các phong trào “tà giáo” là sự phản kháng cách mạng của nhân dân lao động chống lại sự áp bức, bóc lột phong kiến vào thời trung cổ. Tà đạo thời trung cổ, theo định nghĩa của Ph.Ăngghen là: Sự đối lập có tính chất cách mạng chô'ng chế độ phong kiến.

Phong trào tà giáo lớn đầu tiên bao trùm toàn bộ châu Âu bắt đầu vào thế kỷ X ở Bungari. Quyền lời của nông dân Bungari bị nô dịch được thể hiện trong phong trào tà giáo “thánh thiện” mang tính chất chống phong kiến. Các nhà truyền giáo thánh thiện tuyên truỳên không mệt mỏi học thuyết của mình trong giai cấp bị áp bức ở Bungari: “Dạy cho đồng bào không tuân thủ chính quyền, - một người đương thời của phong trào thánh thiện viết, - nguỳên rủa bọn giàu có, căm thù vua chúa, nguỳên rủa các tộc trưởng, phê phán bọn quan lại, coi việc phục vụ vua chúa là đớn hèn trước Chúa và mọi kẻ nô lệ không được phục vụ cho ông chủ của mình”.

Dưới ảnh hưởng của học thuyết thánh thiện, vào thế kỷ X - XI đã xuất hiện các phong trào tà giáo của quần chúng lao động ở Bidantin, Xécbia, Bôxnia, Nga, Kiép. Học thuyết thánh 'thiện có ảnh hưởng đậc biệt to lớn đến các nước Tây Âu, trước hết là Bắc Italia và Nam Pháp, nơi nó được sử dụng trong cuộc đấu tranh chống nhà thờ thiên chúa giáo phong kiến của thị dân, nông dân và các nhóm quý tộc riêng rẽ. Giáo lý của các phái “tà giáo” Tây Âu đến cuối thế kỷ XII đã dẫn đến là miền Bắc Italia và miên nam Pháp hầu như không còn chịu sự kiểm soát của giáo hội. Để chống lại phong trào tà giáo, nhà thờ thiên chúa giáo đã tổ chức hàng loạt các cuộc thập tự chinh đàn áp rất dã man, và vào đầu thế kỷ XIII đã thiết lập ra tòa án giáo hội để xét xử những người chống giáo hội, các dòng tu khổ hạnh (Đôminích và Phranxít) cũng bắt đầu hình thành từ đó.

2.2 Tư tưởng hình thành từ cuối thế kỷ XIV

Vào cuối thế kỷ XIV phong trào tà giáo lại bùng lên với sức mạnh mới. Thời kỳ này xuất hiện hai hình thức tà giáo chính là: tà giáo thị dân và tà giáo của nóng dân, bình dân.

Một trong những đại diện đầu tiên của tà giáo thị dân là giáo sư Trường đại học tổng hợp Ôcpho, Giôn Oaiclíp, người vào cuối thế kỷ XIV đã chống lại sự phụ thuộc của nhà thờ ở Anh vào giáo hoàng La Mã và sự thâm nhập của nhà thờ vào công việc của Nhà nước. Oaiclíp phê phán tôn ti đẳng cấp trong giáo hội và sự giàu có của nó, khẳng định rằng những điều đó trái với kinh thánh.

Mở đầu cho phong trào cải cách tôn giáo ở Tiệp là sự phản kháng của lan Gút chống lại đặc quyền, đặc lợi của giáo hội. Sau khi Gút bị giết hại (năm 1415) đả diễn ra cuộc chiến tranh nông dân của dân tộc Tiệp chống lại quý tộc Đức và chính quyền tối cao của hoàng đế, cuộc chiến tranh mang màu sắc tôn giáo.

Phong trào của Gút ít lâu sau chia ra hai trường phái. Dân thành thị Tiệp và giới quý tộc lập ra phái trasních với cương lĩnh nhàm xóa bỏ đặc quyền của giới tăng lữ, thủ tiêu chính quyền tối cao của giáo hội, và thế tục hóa (chuyển giao chính quyên quý tộc) tài sản của giáo hội và thừa nhận sự độc lập của giáo hội Tiệp.

Những đòi hỏi của phải Taborit cấp tiến hơn, nó biểu hiện quyền lợi của nông dân tiểu thị dân và một bộ phận tiểu quý tộc ở Tiệp. Những người Taborít chống lại nghi lễ nhà thờ thiên chúa giáo và đẳng cấp giáo hội; đồng thời họ đưa ra một loạt khẩu hiệu chống phong kiến - xoá bỏ đặc quyên quý tộc Đức cũng như của Tiệp, thủ tiêu chế độ nông nô và tạp dịch phong kiến V.V.. phục hồi những tư tưởng Cơ đốc giáo sơ khai, họ khẳng định rằng sắp tới thời kỳ “vương quốc ngàn năm”, trong đó tất cả mọi người sẽ bình đẳng và cùng nhau giải quyết công việc chung.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê