1. Bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm

Mặc dù chưa được Hiến pháp ghi nhận cụ thể quyền con người được sống trong môi trường trong lành nhưng quan điểm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho mọi người có điều kiện phát triển toàn diện, bảo đảm cho mọi người được sống trong môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn luôn được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm từ những thập niên 80 của thế kỷ XX. Điều này cũng được thể hiện trong lời nói đầu của Hiến pháp 1992 và nhiều văn bản luật khác, bảo vệ môi trường gắn với trách nhiệm của các doanh nghiệp, các cá nhân và của cả cộng đồng,...

Từ khoảng những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường liên tục được rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới nhằm bảo vệ cho các quyền con người cơ bản mà Việt Nam đã tham gia ký kết các công ước quốc tế về quyền con người, như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Nghị quyết về đền bù thiệt hại môi trường,... Các quy định về đánh giá các tác động môi trường, giám sát môi trường và kiểm soát ô nhiễm cũng như các văn bản hướng dẫn thực hiện đã được ban hành. Các công cụ kinh tế cũng đã được phát triển và áp dụng trong quản lý môi trường. Năm 2006, quỹ Ngân sách môi trường đã được thành lập và kể từ đó ít nhất 1% của ngân sách nhà nước hàng năm đã được phân bổ cho quỹ này. Trong Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường 2001-2010 đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường khung thể chế và pháp luật trong bảo vệ môi trường là nhiệm vụ ưu tiên cao nhất.

2. Các cơ quan bảo vệ môi trường

Bên cạnh đó, các tổ chức bảo vệ môi trường đã được thành lập (Bộ Khoa học công nghệ và môi trường; sở Khoa học công nghệ và môi trường) để quản lý bảo vệ môi trường ở cấp quốc gia và cấp tỉnh. Năm 2002, các tổ chức này đã được cơ cấu lại thành Bộ Tài nguyên và môi trường, sở Tài nguyên và môi trường để giải quyết tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về bảo vệ môi trường.

Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; viễn thám; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Về môi trường thì Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm:

- Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ liên ngành, liên tỉnh, liên vùng, cấp quốc gia về bảo vệ môi trường, an ninh môi trường và các vấn đề môi trường xuyên biên giới sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt;

- Hướng dẫn, kiểm tra việc thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; hướng dẫn kỹ thuật thực hiện đánh giá tác động môi trường chiến lược và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chuyên ngành; tổ chức thực hiện theo thẩm quyền việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, thẩm định và phê duyệt đề án bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường theo quy định của pháp luật;

- Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nguồn gây ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ bao gồm cả khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, làng nghề theo quy định của pháp luật; hướng dẫn bảo vệ môi trường đối với hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; lập danh mục các chế phẩm sinh học sử dụng trong phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và xử lý chất thải, danh mục các chế phẩm sinh học gây ô nhiễm môi trường bị cấm nhập khẩu, danh mục phế liệu được phép nhập khẩu; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định của pháp luật;....

Năm 2008, Cục quản lý môi trường Việt Nam và Chi cục môi trường đã được thành lập nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quản lý môi trường. Ngoài ra, công tác bảo vệ môi trường còn gắn với trách nhiệm của các doanh nghiệp, chính quyền cấp cơ sở và các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân,...

3. Luật bảo vệ môi trường

Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 theo tinh thần đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoạt động môi trường, cho phép sử dụng nhiều biện pháp, công cụ, chế tài mạnh hơn, có tính răn đe cao hơn. Nghị định 80/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết việc thực thi các điều khoản của Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư 08/2006/TT- BTNMT hướng dẫn đánh giá môi trường mang tính chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.

Hiện nay, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đang có hiệu lực thi hành. Sắp tới Luật bảo vệ môi trường 2020 sẽ có hiệu lực thay thế cho Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 17 - 11- 2020, có hiệu lực ngày 01-01-2022… Luật gồm 14 chương, 171 điều quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường.

So với Luật BVMT năm 2014, Luật BVMT 2020 có những điểm mới mang tính đột phá chính như sau:

- Lần đầu tiên, cộng đồng dân cư được quy định là một chủ thể trong công tác BVMT; tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong các hoạt động BVMT.

- Thay đổi phương thức quản lý môi trường đối với dự án đầu tư theo các tiêu chí môi trường; kiểm soát chặt chẽ dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, thực hiện hậu kiểm đối với các dự án có công nghệ tiên tiến và thân thiện môi trường; cắt giảm thủ tục hành chính.

- Đã định chế nội dung sức khỏe môi trường; bổ sung nhiều giải pháp bảo vệ các thành phần môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước.

- Thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn; định hướng cách thức quản lý, ứng xử với chất thải, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

- Lần đầu tiên chế định về thẩm quyền quản lý nhà nước dựa trên nguyên tắc quản lý tổng hợp, thống nhất, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện; phân cấp triệt để cho địa phương.

- Lần đầu chế định cụ thể về kiểm toán môi trường nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý môi trường của doanh nghiệp...

4. Một số văn bản khác liên quan đến bảo vệ môi trường

Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2005 có hẳn một chương XVII - Các tội phạm về môi trường, quy định 10 tội danh cụ thể về môi trường. Hiện nay, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 cũng có chương 19 quy định riêng các tội phạm về môi trường với 12 tội cụ thể theo tinh thần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Văn kiện Đại hội IX (2001) của Đảng và Chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2001 - 2010, cũng khẳng định “...Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên". Nghị quyết 41-NQ/TW (2004) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: “Bảo vệ môi trường là một yếu tố quyết định cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe nhân dân, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước".

Nghị quyết Đại hội X (2006) đề ra cụ thể hơn: “Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên... Ngăn chặn các hành vi huỷ hoại và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống cấp môi trường...." Đảng ta nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố đảm bảo sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tê' quốc tế; Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Khắc phục tư tưởng chỉ coi trọng phát triển kinh tế - xã hội, coi nhẹ bảo vệ môi trường,...” Trong Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam có ghi: “coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm môi trường là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên...”

Trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 và tầm nhìn 2020, nhiều biện pháp chiến lược then chốt về bảo vệ môi trường đã được lựa chọn, các hành động chiến lược ưu tiên nhằm ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm; các biện pháp bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên... đã được đưa ra.

5. Hệ thống luật pháp, chính sách, thể chế bảo vệ môi trường đang tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện

Ngoài ra, vấn đề bảo vệ môi trường cũng được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 -2010; Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001-2010; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến 2020; Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam; dự thảo Chương trình mục tiêu quốc gia về sức khỏe môi trường đến năm 2015 với mục tiêu gắn kết các hoạt động bảo vệ môi trường với các hoạt động bảo vệ sức khoẻ con người nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc về sức khỏe con người do ô nhiễm môi trường, góp phần thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Luật Bảo vệ môi trường, ... nhận thức của cán bộ và nhân dân về bảo vệ môi trường đã được nâng cao hơn. Hệ thống luật pháp, chính sách, thể chế bảo vệ môi trường đang tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức, nó điều chỉnh tương đối đầy đủ các thành tố tạo nên môi trường. Hệ thống các tiêu chuẩn của môi trường bước đầu tạo cơ sở cho việc kiểm soát, đánh giá tác động của môi trường,... Tuy nhiên, giữa pháp luật với thực tiễn còn khoảng cách khá xa, các mục tiêu và giải pháp đề ra chưa đạt hiệu quả như mong đợi, môi trường tiếp tục bị xuống cấp nhanh, với mức độ nghiêm trọng, công tác bảo vệ môi trường đang đứng trước nhiều thách thức gay gắt. Quyền được sống trong môi trường trong lành của con người bị xâm phạm ở nhiều nơi, nhiều lúc, có nơi đang ở mức độ nghiêm trọng tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của quốc gia, ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các quyền con người.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)