1 Quy định  về loại hình doanh nghiệp

Theo  Nguyên lý và thực hành Luật thương mại và Luật doanh nghiệp quy định như sau

Không nên nhầm cơ sở kinh doanh với doanh nghiệp vì doanh nghiệp không có đời sống pháp lý riêng biệt và doanh nghiệp gồm toàn bộ các của cải cho phép một thể nhân hay một pháp nhân thực hiện hoạt động thương mại một doanh nghiệp có thể gồm nhiều cơ sở kinh doanh đất đai các bất động sản các việc tham gia vào các công ty khác .Ngoài ra các doanh nghiệp thương mại có thể  kinh doanh dưới các hình thức pháp lý khác nhau.
Trước hết, đó có thể là là một nhà công nghiệp hoặc một thương nhân độc lập mà bản thân là chủ cơ sở kinh doanh , với tất cả cái gì gắn với hoạt động của họ. Đó cũng có thể là các công ty với tầm cỡ khác nhau 
Bên cạnh các công ty cổ phần lớn mạnh có rất nhiều cổ đông còn có nhiều doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của một số rất ít người , ngay cả khi chúng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần.
Nhưng nói chung,những doanh nghiệp nhỏ haỵ trung bình kinh doanh dưới hình thức cồng tỹ thường được lập ra dưới hình thức công ty hợp danh,hoậc thừòng gặp hơn là' các công ty trách nhiệm hữu hạn (xem chương 10), trong đó có một hay vài người làm chủ tuyệt đối do họ nắm giữ cả các phần vốn góp của công ty
Do việc xuất hiện các công ty cỡ lớn,và vì họ có uy tín và các phương tiện kỹ thuật và tài chính,họ có thể cung cấp cho người tiêu dùng các hàng hóa giá rẻ hơn,nên các nhà buôn độc lập càng ngày càng có xu hướng kết tụ với nhau để có thể đối phó dễ dàng hơn với sự cạnh tranh của các cửa hiệu có diện tích lớn.
Một cách họ làm là thành lập "hợp tác xã các thương nhân bán lẻ" để Các xã viên được mua buôn với giá rẻ hơn về các loại hợp tác xã đó sẽ xem ở chương 13 ở đây chúng tôi chỉ nói về một thể chế pháp lý mới Các cửa hàng tập thể của các thương nhân độc lập và quy định đối với các cửa hiệu có diện tích lớn.
Cửa hàng tập thể của các thương nhân độc lập.
Trong 20 năm gần đây, người ta thấy bên cạnh các cửa hàng nhỏ của các nhà buôn hoặc công ty thương nghiệp và các cửa hiệũ quy mô lốn của các công ty,cồn có một hình thức mối trong chu trình phân phối lưu thông,đó là các cửa hàng tập thể của các thương nhân độc lập.
Đó là các cửa hiệu nhỏ thường có bề mặt hẹp thuộc một tư nhân hay một công ty và các cửa hiệu đó cùng kinh doanh chung trong một khu vực và dưới một tên chung.
Các thương nhân đó vẫn là chủ sở hữu của cơ sở thương mại của họ nhưng họ tham gia một tổ hợp vì lợi ích kinh tế hoặc một công ty cổ phần có vốn không cố định họặc một công ty hợp tác xã của các nhà bán lẻ.
Pháp nhân đó có quyền sở hữu hoặc có quyền chỉ hưởng dụng các nhà cửa sân bãi kho hàng của cửa hiệu tập thể ấn định và thi hành chủ trương chung và quản lý các địch vụ chung. 
Mọi thành viên của tổ hợp kinh tế hay công ty có một phần góp vốn hay một số cổ phần do đó họ được dùng một địa điểm do điều lệ nội quy ấn định đồng thời được chuộng các dịch vụ chung.
Hợp đồng thành lập hoặc nội quy có thể phân cho một thành viên một địa điếm khác tùy theo các hoạt động theo mùa .Chỉ có hội đồng các thành viên hoặc đại hội đồng tùy theo trường hợp,mới có quyền thay đổi các địạ điểm đã phân với sự đồng ý của các bên hữu quan.
Ngoài các điều lệ cần có một bản nội quy kèm theo hợp đồng thành lập.
Các văn bản đó chỉ có thể do đại hội đồng các thành viên sủa đổi quyết định theo đa số tuyệt đối hoặc theo đa số cao hơn nếu hợp đồng thành lập đã quy định như vậy. 
Nội quy ấn định ngày giờ mở cửa việc tổ chức và quản lý các dịch vụ chung việc phân chia các lệ phí liên quan đến các dịch vụ đó việc bố trí các hoạt động cưng chứng mục đích việc chọn các câu ghi trên quảng cáo việc trang trí từng địa điểm và cách trang trí cho được hài hòa
Luật nói trên quy đính các điều khoản về trách nhiệm của các thành viên mới cũng như các trường hợp khai trừ và các hậu quả của việc rút khỏi tổ chức hay việc chết
Cửa hiệu có diện tích rộng 
Sau khi có nhiều thương nhân nhỏ khiếu nại về việc các cửa hàng có bề mặt rộng cạnh tranh với họ một cách đáng sợ nhà làm luật đã can thiệp để hạn chế trong tương lai số cửa hiệu lớn đó và chỉ cho tồn tại các cửa hiệu lớn mà hoàn cảnh địa phương chứng minh là cần thiết.
Trước khi được giấy phép xây dựng nếu cần phải có giấy phép và trước khi thi công nếu không bắt buộc phải có giấy phép các dự án kể sau đây phải được phép của Ban quy hoạch đô thị của tỉnh về thương nghiệp.
1. Các dự án xây đựng mới các cửa hàng bán lẻ có diện tích rộng trên 3000 mét vuông hoặc diện tích chỗ bán hàng trên 1500 mét vuông thì các diện tích đó sẽ bị rút xuống 2000 và 1000 mét vuông trong các xã mà dân số ít hơn 40.000 người
2. Các dự án mở rộng các cửa hàng hoặc tăng thêm điện tích bề mặt bán hàng đã đạt tới các bề mặt nói trong đoạn 1 trên đây nay muốn vượt quá 200 mét vuông;
3. Các dự án sửa đổi các bất động sản hiện có thành cơ sở thương mại bán lẻ mà diện tích đất hoặc diện tích cửa hàng ngang hay rộng hơn các bề mặt nói ở đoạn 1 trên đây.
Nếu dự án có sửa đổi nhiều về tính chất của thương nghiệp hoặc các bề mặt bán hàng ông tỉnh trưởng phải hỏi ý kiến Ban quy hoạch đô thị của tỉnh về thương nghiệp, và Ban này phải quyết định trong thời hạn 2 tháng.
Giấy phép cấp cho các việc làm nói trong đoạn 1 trên đây không được nhượng cho ai hoặc chuyển cho ai 
Ban quy hoạch đô thị của tỉnh về thương nghiệp xem xét các đơn xin phép gửi đến Ban căn cứ vào tình trạng cơ cấu thương nghiệp và thủ công nghiệp, vào sự tiến triển của hệ thống thương nghiệp trong tỉnh cùng các vùng lân cận căn cứ vào những định hưống ngắn hạn và dài hạn của các hoạt động của đô thị và nông thôn,và vào sự cân bằng cần thiết giữạ các dạng thương mại khác nhau. 

2 Quy định về doanh nghiệp tư nhân

Theo điều 183 Luật doanh nghiệp 2014:
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.
- Doanh nghiệp tư nhân  không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Một số đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
-  Doanh nghiệp tư nhân  do một cá nhân làm chủ. Khác với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ. Không có hội đồng cổ đông như công ty cổ phần, không có hội đồng thành viên như công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và không có chủ sở hữu là một tổ chức như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp tư nhân chỉ có một người làm chủ và có quyền quyết định cao nhất.
-  Doanh nghiệp tư nhân  có trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác. Tức là khi chủ sở hữu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sau khi sử dụng hết tài sản của công ty vẫn chưa trả hết nợ thì chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình để chi trả.  Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của công ty, nên pháp luật quy định chủ doanh nghiệp tư nhân không thể đồng thời là thành viên công ty hợp danh, chủ hộ kinh doanh. Bởi vì thành viên công ty hợp danh và chủ hộ kinh doanh cũng đều có trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của mình.
- Doanh nghiệp tư nhân  không có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập, tài sản của doanh nghiệp với tài sản của chủ doanh nghiệp không có sự phân biệt rõ ràng. Doanh nghiệp tư nhân chỉ do một người làm chủ nên cơ cấu tổ chức của công ty còn đơn giản, không có sự phức tạp. Bởi vậy, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
- Doanh nghiệp tư nhân  không có quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh doanh có quy mô nhỏ, có sự hạn chế về vốn điều lệ. Bản thân công ty không có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản của công ty và tài sản của chủ sở hữu. Vậy nên khi phát hành cổ phiếu sẽ dẫn đến sự thay đổi trong thành viên góp vốn, không xác định được trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp đối với cổ đông.
- Doanh nghiệp tư nhân  không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, bởi vậy doanh nghiệp tư nhân không có tư cách là “người”, không thể tự mình tham gia nhân danh chính mình vào quan hệ xã hội. Vậy nên doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp. Chủ doanh nghiệp tư nhân muốn góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp phải nhân danh chính bản thân mình chứ không được nhân danh doanh nghiệp tư nhân.

3 Quy định về công ty hợp danh 

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:

- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn;

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;

- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty.

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty. Những ưu điểm, nhược điểm của Công ty hợp danh.

Đặc điểmđặc trưng cơ bản của công ty hợp danhCông ty hợp danh là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có ít nhất hai người cùng góp vốn và danh nghĩa để hoạt động kinh doanh dưới một tên chung và cùng liên đới chịu trach vô hạn trước các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các hoạt động kinh doanh đó

4 Quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Dựa vào quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

Cá nhân, tổ chức thành lập loại hình doanh nghiệp này có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài.

Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Ngoài ra, công ty TNHH một thành viên có thể huy động vốn bằng nhiều cách khác nhau.

Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần.

Từ quy định nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của công ty TNHH một thành viên như sau: Là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu; Chủ sở hữu chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty; Không được quyền phát hành cổ phần trừ khi chuyển đổi thành công ty cổ phần

5 Quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

Theo Điều 46 Luật doanh nghiệp 2020, giống như các loại hình doanh nghiệp khác, Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng thành viên không vượt quá năm mươi. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 

Từ quy định của Luật doanh nghiệp 2020, có thể rút ra các đặc điểm nhà đầu tư cần biết khi lựa chọn thành lập Công ty TNHH hai thành viên như sau:
- Số lượng thành viên: Thành viên của công ty TNHH hai thành viên có tối thiểu là hai và tối đa không quá 50 thành viên.
Tư cách thành viên: Thành viên của công ty TNHH hai thành viên là cá nhân, tổ chức có thể có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài. Tuy nhiên cá nhân, tổ chức này không thuộc các trường hợp cấm thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp quy định tại điều 17 Luật Doanh nghiệp 2014.
- Theo Điều 46 Luật doanh nghiệp 2020, Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên khi đăng ký doanh nghiệp là tổng giá trị phần vốn góp các thành viên cam kết góp vào công ty.
Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký dịch vụ thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp.
- Công ty tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình vì công ty có tư cách pháp nhân.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Riêng đối với thời điểm thành lập công ty: Trong thời hạn góp vốn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc một thời hạn nhỏ hơn quy định tại điều lệ. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian này.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Do đó, công ty có thể nhân danh chính mình trong các giao dịch và hoạt động kinh doanh.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được huy động vốn bằng việc phát hành cổ phần vì cổ phần và cổ phiếu là đặc trưng riêng của mô hình công ty cổ phần nhằm huy động vốn. Tuy nhiên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên vẫn có thể áp dụng các phương thức huy động vốn:Tăng vốn điều lệ công ty bằng cách kết nạp thêm thành viên mới tuy nhiên không quá 50 thành viên;Tăng vốn điều lệ công ty bằng cách huy động vốn từ các thành viên đang hoạt động trong công ty; Huy động vốn thông qua hoạt động vay vốn, tín dụng từ các cá nhân, tổ chức;Phát hành trái phiếu.
- Cơ cấu tổ chức công ty TNHH hai thành viên trở lên khá chặt chẽ

6 Quy định công ty cổ phần 

Theo quy định tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Đặc điểm công ty cổ phần 

Công ty cp có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.Thành viên công ty cp được gọi là các cổ đông. Cổ đông là những người sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty. Pháp luật chỉ quy định về số cổ đông công ty cổ phần tối thiểu là 03 và không giới hạn số lượng tối đa. Điều này giúp công ty cp có thể mở rộng số lượng thành viên tuỳ theo nhu cầu của mình.

- Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.Vốn điều lệ của công ty cp được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phiếu. Tổ chức hoặc cá nhân tham gia vào công ty bằng cách mua cổ phiếu, có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu.

- Chế độ chịu trách nhiệm của công ty cổ phần là chế độ trách nhiệm hữu hạn:Công ty sẽ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản công ty.Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng số vốn góp vào công ty.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!