1. Thương nhân là cá nhân

Theo cách phân chia truyền thống, chủ thể pháp luật nói chung và chủ thể của Luật Thương mại nói riêng được chia thành: Pháp nhân và thể nhân. Pháp nhân là thuật ngữ dùng để chỉ chủ thể pháp luật là một tổ chức còn thể nhân dùng để chỉ một con người cụ thể. Trong pháp luật thực định của Việt Nam, thuật ngữ cá nhân thường được sử dụng thay cho thuật ngữ thể nhân, mặc dù hai thuật ngữ này không hoàn toàn đồng nhất với nhau (theo quan niệm chung).

Như vậy, thương nhân là cá nhân có nghĩa thương nhân đó là một con người cụ thể. Đổ trở thành thương nhân, con người cụ thể phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự (xem thêm Mục 1 Chương 3 Bộ luật Dân sự năm 2015), đồng thời phải có đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của thương nhân, họ có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện hoạt động thương mại, tự mình gánh chịu những trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa, các thương nhân là cá nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại.

Theo pháp luật thương mại, thương nhân là cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp bị pháp luật cấm kinh doanh (Điều 17 Luật Thương mại năm 1997 và Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 trước đây, hiện nay đang áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020).

Cá nhân được coi là thương nhân khi họ có đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của thương nhân (xem phần đặc điểm của thương nhân). Đặc biệt, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh thương mại, phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tư cách thương nhân của họ được xác lập và họ có thể tiến hành các hoạt động thương mại.

Trong nền kinh tế Việt Nam tồn tại một số lượng khá lớn doanh nghiệp tư nhân. Ở đây cũng cần lưu ý một vấn đề nhạy cảm khi xác định tư cách thương nhân trong trường hợp cá nhân tiến hành đăng ký doanh nghiệp dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân. Với cách quy định hiện tại của Luật Thương mại, chúng ta khó có thể xác định doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân) vào loại thương nhân nào (cá nhân hay pháp nhân).

Trong trường hợp đó, cần phải có quan niệm rõ ràng để “kết dính” doanh nghiệp vào tư cách pháp lý của chủ doanh nghiệp tư nhân. Trong mối quan hệ này, tư cách thương nhân gắn chặt với cá nhân chủ doanh nghiệp là vấn đề trọng yếu, còn bản thân “doanh nghiệp” là vấn đề thứ yếu. vấn đề này được thể hiện đậm nét qua hàng loạt các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Hầu hết các quy định của Luật Doanh nghiệp đều dành quyền cho chủ doanh nghiệp tư nhân chứ không phải doanh nghiệp, trừ Điều 7, Điều 8 (các điều này quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nói chung). Trong các quan hệ tố tụng, chủ doanh nghiệp tư nhân (chứ không phải doanh nghiệp) là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp (khoản 3 Điều 185 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Những lý lẽ đó sẽ là cơ sở để xếp doanh nghiệp tư nhân vào loại thương nhân là cá nhân. Tuy nhiên, với quy định của pháp luật hiện hành (Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản...), bản thân doanh nghiệp vẫn có ý nghĩa lớn trong việc tạo ra sự khác biệt về địa vị pháp lý của thương nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân với thương nhân là cá nhân kinh doanh, ví dụ: quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh được pháp luật quy định cho doanh nghiệp tư nhân, hay đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp cũng được cấp cho doanh nghiệp tư nhân. Quy định này trong pháp luật Việt Nam đã làm phát sinh những ý kiến khác nhau khi xác định tư cách thương nhân của doanh nghiệp tư nhân.

2. Thương nhân là pháp nhân

Pháp nhân là một khái niệm pháp lý được giới nghiên cứu khoa học luật sáng tạo và được các nhà lập pháp sử dụng để gắn nố với một tổ chức khi có những điều kiện nhất định nhằm tạo cho tổ chức đó được hưởng đối xử giống như một cá nhân. Bởi vậy, có thể nói pháp nhân chính là “con người” của pháp luật.

>> Xem thêm:  Các hình thức xúc tiến thương mại của thương nhân tại Việt Nam?

Ở Việt Nam, một tổ chức được coi là pháp nhân khi hội đủ những điều kiện được quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự nậm 2015. Cùng với việc quy định các điều kiện ưở thành pháp nhân, Điều 75 và Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã ghi nhận các loại pháp nhân, trong đó có: (ĩ) Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên, bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác (xem Điều 75 Bộ luật Dân sự) và pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng khống được phân chia cho các thành viên, gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác (xem Điều 76 Bộ luật Dân sự).

Tuy nhiên, không phải mọi tổ chức có tư cách pháp nhân đều có thể trở thành thương nhân mà một tổ chức chỉ được coi là thương nhân là pháp nhân khi nó hội đủ các điều kiện của pháp nhân theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời có đủ các dấu hiệu của thương nhân. Pháp nhân thương mại chính là thương nhân, còn pháp nhân phi thương mại mặc dù không phải là thương nhân nhưng cũng có thể tham gia các quan hệ thương mại trong những trường họp cụ thể theo quy định của pháp luật thương mại.

3. Các dấu hiệu pháp lý của thương nhân

Xét các dấu hiệu pháp lý của thương nhân và tiêu chuẩn pháp lý của pháp nhân, hiện nay ở nước ta, các thương nhân là pháp nhân chủ yếu bao gồm:

- Thương nhân là các doanh nghiệp nhà nước ;

- Thương nhân là các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;

- Thương nhân là các Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh.

Ngoài các đặc điểm của thương nhân nói chung, các thương nhân là pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại trong phạm vi số vốn, tài sản của pháp nhân. Ngoài ra, mỗi loại thương nhân còn có những đặc điểm riêng biệt, tương ứng với hình thức tổ chức của mình.

>> Xem thêm:  Đại diện cho thương nhân là gì ? Đặc điểm của đại diện cho thương nhân

4. Chế độ tài sản, trách nhiệm tài sản của thương nhân

Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại, thương nhân luôn đồng thời vừa là “chủ nợ”, vừa là “con nợ” của thương nhân khác. Thương nhân luôn cố gắng cân đối được các khoản “nợ, có” này để đảm bảo tình hình tài chính ổn định, tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của mình. Tuy nhiên, bởi những lý do khác nhau mà không ít trường hợp thương nhân làm ăn thua lỗ, lâm vào tình hạng tài chính bi đát, các khoản tài sản có của mình không đủ để thanh toái tài sản nợ, dẫn đến tình trạng bị phá sản. Ở đây sẽ nảy sinh vấn đề xử lý tài sản của thương nhân mất khả năng thanh toán nợ này, thương nhân phải dùng tài sản của mình thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ. Thực chất, khối tài sản của thương nhân cũng chính là tài sản do các chủ đầu tư (hay còn gọi là các thành viên, các chủ sở hữu) của thương nhân đóng góp, do đó trong trường hợp này pháp luật ngoài việc quy định chế độ trách nhiệm tài sản của thương nhân nói chung, còn quy định chế độ trách nhiệm tài sản của các chủ đầu tư (thành viên, chủ sở hữu) của thương nhân. Pháp luật hiện hành (Luật Doanh nghiệp) quy định:

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của minh về mọi hoạt động của doanh nghiệp;

- Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành ỵiên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;

- Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty;

- Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật Doanh nghiệp năm 2014;

- Đối với Công ty cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp frong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

Như vậy, có thể thấy pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định hai chế độ trách nhiệm tài sản khác nhau cho các nhà đầu tư (chủ sở hữu) của thương nhân, đó là trách nhiệm vô hạn và TNHH. Hay nói cách khác, khi xử lý tài sản của thương nhãn bị phá sản, các chủ sở hữu của các loại hình thương nhân khác nhau chịu trách nhiệm tài sản khác nhau: có những chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn, có những chủ sở hữu chịu TNHH.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Trách nhiệm vô hạn là gì ? Quy định pháp luật về trách nhiệm vô hạn