1. Khái niệm, phân loại nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

1.1 Khái niệm về các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự các nguyên tắc cơ bản một mặt phản ánh những quy luật đòi hỏi khách quan của quá trình giải quyết vụ án đồng thời một mặt cũng thể hiện thái độ chủ quan, nhận thức của nhà nước đối với việc đấu tranh xử lý tội phạm. Nói cách khác các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự là kết quả của nhận thức chủ quan đối với quy luật khách quan trogn việc giải qyết vụ án được pháp luật hóa làm định hướng cho xây dựng và thực thi pháp luật tố tụng hình sự.

Do đó ta có thể hiểu “Nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự là những phương châm, định hướng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong quá trình xây dựng thực thi pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án khách quan công bằng, bảo đảm và tôn trọng quyền con người”.

1.2 Phân loại các nguyên tắc

Phân loại nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự là việc dựa vào nhữn tiêu chí nhất định để xác định vị trí, vai trò, tính chất, phạm vi của từng nguyên tắc đối với việc xây dựng, thực thi pháp luật tố tụng hình sự và đối với việc thực hiện mục đích của tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Các tiêu chí để phân loại các nguyên tắc Luật tố tụng hình sự bao gồm:

- Tiêu chí về tính chất, phạm vi áp dụng của nguyên tắc luật tố tụng hình sự. Đây là cách phân loại được thừa nhận rộng rãi, theo tiêu chí này các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự được phân chia thành hai loại:

  • Nguyên tắc cơ bản
  • Nguyên tắc thông thường.

- Tiêu chí về giá trị pháp lý và hiệu lực của văn bản quy phạm: Việc phân loại các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự dựa theo tiêu chí giá trị pháp lý về hiệu lực văn bản quy phạm, thực chế dựa theo tiêu chí này là xác định giá trị pháp lý của nguyên tắc thông qua việc xác định nó được quy định trogn Hiến pháp hay được quy định ở đạo luật tố tụng hình sự. Dựa theo tiêu chí này có thể phân loại các nguyên tắc thành hai loại cơ bản như sau:

  • Nguyên tắc hiến định
  • Nguyên tắc riêng biệt trong tố tụng hình sự

- Tiêu chí nhiệm vụ của Luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án. Dựa vào tiêu chí nàu nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự có thể phân loại thành 3 nhóm:

  • Nhóm các nguyên tắc trực tiếp liên quan đến đấu tranh, xử lý tội phạm;
  • Nhóm nguyên tắc liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật;
  • Nhóm nguyên tắc liên quan đến nhiệm vụ giáo dục pháp luật.

- Tiêu chí các giai đoạn trong tố tụng hình sự. Ở tiêu chí này các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự có thể được chia thành các nhóm như sau:

  • Nhóm nguyên tắc xuyên suốt quá trình tố tụng hình sự, giải quyết nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự.
  • Nhóm nguyên tắc đảm bảo cho việc xét xử vụ án hình sự;
  • Nhóm nguyên tắc liên quan đến nhiệm vụ của các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố trong quá trình giải quyết vụ án;
  • Nhóm nguyên tắc liên quan đến nhiệm vụ thi hành án hình sự.

- Tiêu chí về các lĩnh vực thực hiện mục đích của tố tụng hình sự. Thực hiện những mục đích đã được đặt ra thì tố tụng hình sự phải được triển khai trên nhiều hướng, nhiều lĩnh vực và mỗi hướng, mỗi lĩnh vực đó được coi như là một nhiệm vụ của Tố tụng hình sự. Dựa trên tiêu chí này các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được phân thành các nhóm:

  • Nhóm nguyên tắc thực hiện mục đích phát hiện kịp thời và xử lý chính xác, khách quan, công bằng tội phạm;
  • Nhóm nguyên tắc bảo đảm quyền con người, bảo vệ công lý trong tố tụng hình sự.

2. Các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở Điều 8 Hiến pháp năm 2013 và được quán triệt trong quá trình lập pháp và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, nó có ý nghĩa bảo đảm cho việc tiến hành giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác có hiệu quả đồng thời bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân. Nguyên tắc này có những nội dung chính như sau:

- Xây dựng hệ thống pháp luật tố tụng hình sự đầy đủ, toàn diện, phù hợp với thực tế, điều kiện của đất nước ở từng giai đoạn.

- Tự giác thực thi nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nhiệm vụ tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự trước hết thuộc về cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng do mọi hoạt động của các chủ thể này đều đại diện cho nhà nước và có ảnh hưởng lớn có tính quyết định tới việc giải quyết vụ án cũng như ảnh hưởng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia tố tụng hình sự.

- Nhấn mạnh đến giới hạn quy định pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án kể từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi kết thúc vụ án mọi hoạt động tố tụng đều phải tuân thủ, không được thực hiện vượt quá giới hạn, quy định của pháp luật.

2.2 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này một mặt cụ thể hóa tư tưởng, cách tiếp cận của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng định hướng cho việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người của các chủ thể tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án nhất là của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nguyên tắc này có các nội dung cụ thể như sau:

- Thông qua các quy định của Luật tố tụng hình sự quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo đảm. Khi giải quyết các vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng được Nhà nước trao quyền phải có trách nhiệm áp dụng đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp có liên quan để giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền tố tụng của mình, đồng thời các cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải tôn trọng các quyền tố tụng của các chủ thể khi tiến hành hoạt động đó.

- Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải:

  • Tôn trọng các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự.
  • Thường xuyên kiểm tra, kiểm sát tính hợp pháp, hợp lý của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ nếu phát hiện có vi phạm pháp luật phải hủy bỏ ngay các quyết định đó.

2.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đắng trước pháp luật

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này xác định địa vị bình đẳng của cá nhân và pháp nhân khi tham gia tố tụng không bị phân biệt, họ có các địa vị pháp lý, quyền và các nghĩa vụ ngang nhau khi ở cùng một tư cách tố tụng. Nguyên tắc này không những khẳng định vị thế bình đẳng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà còn nhấn mạnh đến việc tôn trọng quyền con người, tôn trọng danh dự và vị thế con người của những người tham gia tố tụng trogn quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên tắc này có những nội dung cơ bản sau:

- Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đăng trước pháp luật, do đó đã khẳng định việc thừa nhận tư cách con người trước pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.

- Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội là hai khía cạnh của nội dung này.

- Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật thể hiện sự bình đẳng trong việc đối xử với tất cả những người phạm tội cho dù họ là ai, không phân biệt dân tộc, nam, nữ, tín ngưỡng, tôn giáo,...

- Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế.

- Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật tố tụng hình sự.

2.4 Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Nguyên tắc này được quy định trong Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này bao gồm những những nội dung chủ yếu như sau:

- Mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể.

- Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát  trừ trường hợp phạm tội quả tang.

- Nghiêm cấm các hành vi tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người.

2.5 Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tác này có những nội dung chủ yếu như sau:

- Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản.

- Mọi hành vi xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.

- Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

2.6 Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân,.....

Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân được quy định tại Điều 12 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, dữa liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân là các quyền con người được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

- Trong quá trình giải quyết vụ án cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn điều tra như khám người, chỗ ở,....Tuy nhiên khi áp dụng nguyên tắc này cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong Luật tố tụng.

- Mọi hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân hoặc các hành vi vi phạm về bí mật an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của công dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2.7 Nguyên tắc suy đoán vô tội

Đây là một nguyên tắc thuộc nhóm những nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Đây là nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong bộ luật cũ

- Nội dung của nguyên tắc

  • Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Nếu có căn cứ để kết tội thì Tòa án sẽ ra bản án kết tội. Một người chỉ có thể bị coi là có tội khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tức là bản án của Tòa án đã tuyên đối với người này là có tội và bản án đó không bị kháng cao, kháng nghị, không có căn cứ để giám đốc thẩm hay tái thẩm
  • Người bị tình nghi, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng
  • Mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo

=> Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ. Mọi nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh, làm rõ. Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ

- Ý nghĩa của nguyên tắc

  • Nguyên tắc này đáp ứng yêu cầu chứng minh
  • Bảo về quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo: Bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con người
  • Suy đoán vô tội còn đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố, xét xử hùng mạnh được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Như vậy không chỉ là quyền lực của người bị buộc tội, thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo đảm quyền con người, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự

2.8 Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này được thể hiện với các nội dung sau đây:

- Một tội phạm đã có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì không bị khởi tố điều tra, truy tố, xét xử nữa

- Một người đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì không bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người đó trừ trường hợp họ phạm tội khác.

2.9 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đây là nguyên tắc thuộc nhóm các nguyên tắc bảo đảm tính chính xác và khách quan.

- Nội dung của nguyên tắc:

  • Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội
  •  Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng các biện pháp hợp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo

- Ý nghĩa: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp luật đã cho công dân, đồng thời cũng cố thêm nguyên tắc suy đoán vô tội.

2.10 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể được xác định như sau:

- Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình;

- Bị hại và những người tham gia tố tụng khác có quyền tự minh hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

2.11 Nguyên tắc trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 17 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nội dung bao gồm:

- Trong quá trình tiến hành tố tụng có quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình.

- Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Luật Minh Khuê