1. Định nghĩa quyền con người trong luật quốc tế

Có sự phân biệt giữa đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế về quyền con người (là quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong lĩnh vực hợp tác quốc tế bảo vệ, phát triển quyền con người) và đối tượng được luật quốc tế về quyền con người bảo hộ (là các cá nhân khi thụ hưởng và thực thi quyền con người theo quy định của luật quốc tế và luật quốc gia). Cá nhân nhận sự bảo hộ của luật quốc tế về quyền con người ở tại quốc gia mà mình là công dân, cũng như trong quan hệ quốc tế phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế. Các quyền con người của mỗi cá nhân được bảo đảm bằng những quy định và các thiết chế quốc gia cũng như quốc tế. Việc cá nhân tham gia vào một số các quan hê pháp luật quốc tế về quyền con người là do sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế. Như vậy, về cơ bản, cá nhân là chủ thể của quyền con người chứ không phải là chủ thể của luật quốc tế về quyền con người.

Trong lĩnh vực quyền con người, quốc gia tham gia hợp tác với các chủ thể khác của luật quốc tế nhằm bảo vệ và phát triển các quyền con người nói chung và quyền con người của công dân mình trong các mối quan hệ quốc tế song phương, đa phương, ở phạm vi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu.

Các tổ chức quốc tế phổ cập hoạt động trong lĩnh vực quyền con người như Liên hợp quốc (bao gồm cả các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền) và các tổ chức quốc tế về nhân quyền khác đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phối hợp và điều phối quan hệ hợp tác về bảo vệ, phát triển quyền con người cũng như trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động nêu trên ở phạm vi từng quốc gia và phạm vi toàn cầu.

Thực tiễn quan hệ quốc tế không phủ nhận những đóng góp quan trọng và tích cực của các tổ chức quốc tế phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, nhân đạo nhưng về phương diện pháp lý quốc tế, hoạt động của các tổ chức đó hoàn toàn chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia và quy định của các văn bản pháp lý quốc tế, chẳng hạn quy chế quan sát viên Liên hợp quốc của các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực quyền con người do Liên hợp quốc quy định.

Luật quốc tế về quyền con người quy định nghĩa vụ quốc gia đối với các vấn đề về quyền con người không bị giới hạn bởi yếu tố lãnh thổ hay sự khác biệt về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khi thực thi các tiêu chí quốc tế về quyền con người đã được quốc gia cam kết thừa nhận trong các công ước quốc tế phổ cập. Bên cạnh đó, luôn tổn tại những bảo đảm pháp lý cơ bản để các hoạt động thực thi và bảo vệ quyền con người không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của từng quốc gia hay lợi ích của cộng đồng quốc tế.

Từ những nét khái quát nêu trên, có thể định nghĩa, luật quốc tế về quyền con người là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong việc bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.

2. Các nguyên tắc của luật quốc tế về quyền con người

2.1 Nguyên tắc dân tộc tự quyết

Luật quốc tế về quyền con người thừa nhận về mặt pháp lý các giá trị tự nhiên, xã hội và nhân loại của quyền con người, trong đó, giá trị nhân loại của quyền con người với tư cách là quyền tập thể chính là độc lập, chủ quyền, bình đẳng giữa các dân tộc. Nói cách khác, quyền con người cơ bản là sự gắn kết của quyền cá nhân và quyền tập thể. Chính vì vậy, trong quan hệ quốc tế, tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc có ý nghĩa là sự tôn trọng các chuẩn mực quốc tế về quyền con người nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đây cũng chính là cơ sở của hoà bình và an ninh quốc tế, của hợp tác và phát triển trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá. Nguyên tắc nêu trên của luật quốc tế về quyền con người thể hiện xu thế của thời đại là phát triển quyền con người gắn với hoà bình, độc lập dân tộc, an ninh, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhiều văn bần pháp lý quốc tế đã ghi nhận nội dung của nguyên tắc này thông qua các quyền dân tộc cơ bản như quyền độc lập dân tộc, quyền được phát triển, chủ quyền vĩnh viền đối với tài nguyên thiên nhiên, quyền được sống trong hoà bình, an ninh và môi trường trong sạch... của từng dân tộc.

2.2 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng các quyền cơ bản của con người và hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ, phát triển quyền con người

Nguyên tắc này của luật quốc tế về quyền con người xuất phát từ các đặc trưng mang tính khách quan hoá, tính xã hội hoá, tính quốc tế hoá và tính quy phạm hoá của quyền con ngư­ời. Đối với việc bảo vê và phát triển quyền con người, đây là một trong những điều kiện để xây dựng hoà bình và an ninh quốc tế đồng thời là căn cứ để xác định trách nhiệm riêng biệt của quốc gia đối với các vấn đề về quyền con người, nảy sinh trong nội bộ từng quốc gia cũng như trong quan hệ hợp tác quốc tế về quyền con người. Mặt khác, thực hiện nguyên tắc trên sẽ tạo ra giới hạn cần thiết cho hành động của mỗi quốc gia trong lĩnh vực quyền con người theo hướng vừa bảo đảm tính hiệu quả của các quan hệ hợp tác quốc tế về nhân quyền, vừa không xâm phạm tới chủ quyền của quốc gia, dân tộc khác.

2.3 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử

Nguyên tắc này tạo tiền đề pháp lý quan trọng để bảo vệ sự bình đẳng của các cá nhân, các nhóm người, các dân tộc thiểu số trong việc hưởng quyền lợi, thành tựu phát triển của kinh tế-xã hội cũng như các quyền con người cơ bản khác. Ý nghĩa thực tiễn của nguyên tắc này là bảo đảm để những giá trị phổ biến, không thể bị chia cắt của các quyền và tự do cơ bản của con người được thực hiện một cách bình đẳng và công bằng, không có sự phân biệt đối với việc thực hiện từng loại quyền hoặc từng loại tự do cơ bản của mỗi cá nhân hay mỗi nhóm riêng biệt. Điều này đồng nghĩa với việc, mọi quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ tạo ra các điều kiện cần thiết trên tất cả các lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá... với sự bảo hộ cần thiết để bảo đảm rằng, trong thẩm quyền tài phán của từng quốc gia, mỗi cá nhân đều có thể được hưởng những quyền và tự do một cách thực tế, không bị sự hạn chế vì yếu tố lãnh thổ hoặc địa bàn cư trú. Nguyên tắc này ràng buộc nghĩa vụ của từng quốc gia khi thực thi các cam kết quốc tế về nhân quyền với đối tượng chịu sự tác động của mỗi công ước quốc tế ở từng lĩnh vực mà nó điều chỉnh.

3. Nguồn của luật quốc tế về quyền con người

3.1 Các công ước quốc tế phổ cập về quyền con người

Đây là các công ước quốc tế có tính chất chuyên môn, được ký kết trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế hoặc quan hệ hợp tác đa phương giữa các quốc gia về các vấh đề liên quan đến lĩnh vực quyền con người. Các công ước này có đặc điểm:

* Thường xác định rõ ràng các mục tiêu hành động như mục tiêu về hoà bình, an ninh, phát triển, tự do, bình đẳng... Đặc điểm này của những điều ước như trên là cơ sở để cộng đồng quốc tế thực hiện sự kiểm soát cần thiết đối với việc thực thi nghĩa vụ thành viên của mỗi quốc gia. Mặc dù trong nội dung của từng công ước có thể chấp nhận những hạn chế nhất định đối với việc thực hiện một nghĩa vụ nào đó của quốc gia về quyền con người nhưng những hạn chế này phải được thông báo theo cơ chế quy định và không được xuất phát từ sự phân biệt sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch, giới tính, ngôn ngữ hoặc địa vị xã hội. Tương tự, cũng có những nghĩa vụ liên quan đến một số lĩnh vực mà quốc gia không được phép hạn chế việc thực hiên nó, dù với lý do nào. Ví dụ, nghĩa vụ của quốc gỉa đối với việc bảo đảm quyền không bị bắt làm nô lệ và quyền được thừa nhận như một con người của công dân trước pháp luật, hay nghĩa vụ hợp tác quốc tế trong bảo vệ, phát triển quyền con người trong cộng đồng quốc tế.

* Có sự tác động của các tổ chức quốc tế đến sự hình thành và thực hiện các công ước này. Có thể nhận thấy rõ điều này qua sự định hình những khái niệm, chuẩn mực và tiêu chí pháp lý quốc tế về quyền con người trong những nghị quyết của tổ chức quốc tế. Trên thực tế, nhiều chuẩn mực hay tiêu chí về lĩnh vực quyền con người đã được các quốc gia thừa nhận và thực thi theo tinh thần nghị quyết của tổ chức quốc tế trước khi được thoả thuận trong nội dung của một công ước cụ thể, ví dụ, việc thực hiện tiêu chí trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, năm 1948. Trong lĩnh vực quyền con người, các công ước quốc tế phổ cập có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người, trong đó những văn bản sau có giá trị đặc biệt quan trọng:

- Hiến chương Liên hợp quốc

Hiến chương là văn bản pháp lý chứa đựng những điều khoản quan trọng, đề cập các quyền và tự do Cơ bản của con người và nghĩa vụ của mỗi quốc gia trước cộng đồng quốc tế cũng như trước chính lợi ích củá quốc gia dân tộc đó đối với việc bảo vệ, phát triển quyền con người. Các quyền và tự do cơ bản của con người được hiến chương xem xét theo nhiều góc độ và tương ứng với từng góc độ đó, có các cơ chế khác nhau để bảo đảm cho việc phát triển và bảo vệ quyền con người ở từng quốc gia.

- Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 1966 của Liên hợp quốc

Đây là hai công ước bao quát về cơ bản nội dung các quyền và tự do chủ yếu của con người từ góc độ khoa học và pháp lý quốc tế. Các nghĩa vụ của quốc gia thành viên vì vậy cũng được xác định và nhìn nhận với tính chất vừa tổng quát, vừa cụ thể, vừa ở phạm vi quốc gia, vừa ở phạm vi quốc tế.

3.2 Các công ước điều chỉnh chuyên biệt

Loại cống ước điều chỉnh chuyên biệt như Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1970 (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em 1989... hướng đến các đối tượng đặc thù trong xã hội, cần một sự bảo vệ đặc biệt, ngoài các yêu cầu chung với tính chất là các nhóm quyền của nhân loại mà các Công ước 1966 đã bảo hộ.

Ngoài các văn kiện pháp lý quốc tế trên, trong lĩnh vực quyền con người, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố là một văn kiện chính trị đặc biệt quan trọng. Đây được coi là '‘thành tựu chung về quyền con người của tất cả các quốc gia dân tộc”. Tuyên ngôn bao gồm lời nói đầu và 30 điều, trong đó đề cập những quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã trở thành cơ sở để đánh giá các biện pháp và mức độ tuân thủ, thực hiện các chuẩn mực quốc tế về quyền con người của các quốc gia. Trong lĩnh vực quyền con người, giá trị pháp lý của một số các tuyên bố do Liên hợp quốc thông qua (như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948, Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 1970) tuy không phải là các điều ước quốc tế nhưng đã hình thành tập quán quốc tế về việc thừa nhận hiệu lực ràng buộc tất cả các quốc gia của những văn kiện quốc tế này.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)