1. Hiện trạng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi thế giới

Cũng gần như vào lúc ấy xuất hiện xu hướng cải cách kinh tế mới "đồng thuận Washington" Hoa Kỳ và một số quốc gia châu Âu khác bắt đầu tiến hành một chương trình khuyến khích chấp nhận trên toàn cầu quyền sở hữu trí tuệ. Chính các quốc gia này có ngành công nghiệp bị thiệt hại nặng do việc sản xuất dược phẩm theo kiểu tương tự, chẳng hạn như ở Ấn Độ là nơi chính sách bản quyền chỉ bao quát các quy trình sản xuất thuốc chứ không bao quát các sản phẩm thuốc, và việc sao chép phổ biến trên toàn cầu các tác phẩm điện ảnh và phần mềm tin học đã trở thành hiện tượng bình thường khắp thế giới. Dưới áp lực của Quốc hội, trong thập niên 1980 Hoa Kỳ đã bắt đầu một chương trình sử dụng các quyền thương mại theo Điều khoản 301 để bắt buộc các nước đang phát triển phải nâng cao tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ của mình nếu không sẽ mất quyền tiếp cận thị trường Hoa Kỳ. Và như vậy các cuộc cấm vận thương mại được áp đặt hoặc được xem xét chống lại nhiều quốc gia khác nhau, nhất là các quốc gia thất bại trong việc cung cấp những loại hình bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà Hoa Kỳ mong muốn đối với sản phẩm phần mềm tin học, dược phẩm, tác phẩm âm nhạc và điện ảnh. Thêm vào áp lực về quyền sở hữu trí tuệ mới mẻ này còn có áp lực từ các nước đã phát triển khác đòi mở rộng Hiệp định GATT vào các lĩnh vực dịch vụ - đối với nhiều quốc gia thuộc thế giới đang phát triển, điều đó có nghĩa là các ngân hàng của quốc gia, bảo hiểm, và các công ty viễn thông (thường do chính phủ kiểm soát), sẽ trở thành đối tượng cạnh tranh và thôn tính bởi các doanh nghiệp từ thế giới đã phát triển. Thông thường đây là kết quả cuối cùng, mặc dù trong nhiều trường hợp .các doanh nghiệp toàn cầu cũng mang tới những sự cải thiện rất đáng kể về hiệu quả và chất lượng của các dịch vụ và như vậy làm lợi cho nền kinh tế của nước chủ nhà.

2. Sự phản đối của các nước đang phát triển về việc mở rộng tiến trình GATT sang lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Chương trình nghị sự của Vòng Uruguay nhấn mạnh một số lượng lớn các vấn đề có thể tác động đặc biệt đến các nước đang phát triển, về phần mình các nước đang phát triển phản đối quyết liệt việc mở rộng tiến trình GATT sang các địa hạt như quyền sở hữu trí tuệ, dịch vụ và đầu tư. Tất nhiên cũng còn có nhiều vấn đề khác, một số vấn đề gây chia rẽ sâu sắc ngay trong thế giới đã phát triển - quan trọng nhất có lẽ là những vấn đề liên quan tới nông nghiệp, trong đó sự khác nhau giữa Hoa Kỳ và châu Âu đã làm cho vòng đàm phán giẫm chân tại chỗ một thời gian dài. Thật vậy, việc đưa nông nghiệp vào nghị trình nói chung được coi là rất có giá trị đối với các nước đang phát triển và vòng đàm phán đã chứng kiến sự nổi lên của Nhóm Caims gồm các nước xuất khẩu nông sản, bao gồm cả những nước mà theo truyền thống là quốc gia đã phát triển như Canada và Úc và các nhà xuất khẩu thuộc thế giới đang phát triển như Argentina. Trong trường hợp hàng dệt may, đa số các nước đang phát triển ưa thích việc hủy bỏ dần dần Hiệp định Đa sợi (MFA) mặc dù có một số nhà cung cấp hàng dệt may kém hiệu quả rõ ràng đã thu được nhiều lợi ích hơn từ sự tồn tại của hệ thống hạn ngạch.

3. Các nước đang phát triển bị gạt ra khỏi cuộc thương thảo

Mặc dù đã là đa số song thế giới đang phát triển vẫn bị gạt ra ngoài các cuộc thương thảo chủ yếu về nhiều vấn đề trong các lĩnh vực gây nhiều tranh cãi này. Các thành viên của định chế thương mại bị buộc phải chấp nhận một quy trình ngoài pháp luật gọi là “Phòng Xanh” trong đó một tập thể nhỏ “các quốc gia nội bộ” gặp nhau và thực hiện những thỏa hiệp liên lĩnh vực cấp bách. Rõ ràng một số dàn xếp như vậy là cần thiết để có thể tiến hành các cuộc thương thảo; nhiều hình thức tham vấn khác nhau của tập thể nội bộ đã từng tồn tại từ thập niên 1970 với sự tham gia nhiều hay ít các nước đang phát triển. Nhưng khi mà số lượng thành viên đã tăng lên đều đặn, nhiều quốc gia cảm thấy mình bị gạt ra ngoài lề. Thông qua “cam kết duy nhất” được miêu tả trong chương 3, thế giới đang phát triển đã được đặt trước những “sự đã rồi” (fait compli) một cách hữu hiệu ngay cả khi vị trí về số lượng của họ đã gia tăng.

Cho dù chỉ có một số ít các nước đang phát triển có “tiếng nói”, trong nhiều trường hợp kết quả của những cuộc thảo luận vẫn tiếp tục phản ánh quyền lợi của các nước đang phát triển. Trong khi các thỏa thuận của Vòng Uruguay đôi khi có vẻ ưu ái cho các nước đang phát triển thì trong nhiều trường hợp những gì mà họ phải ký kết thường bắt đầu có hiệu lực chỉ sau vài năm - ví dụ những cam kết liên quan tới dịch vụ và nhiều đòi hỏi của Hiệp định TRIPS. Còn phần lớn những gì mà thế giới đang phát triển nhận được trở lại thì có giá trị khá mơ hồ hoặc thường bị trì hoãn, ví dụ như những lợi ích có được từ sự thay đổi lập trường của Hoa Kỳ và châu Âu trong chủ nghĩa bảo hộ nông nghiệp. Lấy ví dụ, như đã được trình bày đầy đủ trong chương 4, sự nhượng bộ có lợi nhất, nhìn từ quan điểm của các nhà xuất khẩu, là sự loại bỏ dần dần Hiệp định Đa sợi - Hiệp định đã bảo hộ ngành dệt và may của Hoa Kỳ và châu Âu. Sự loại bỏ hoàn thành vào năm 2005, song thuế suất cao đánh vào các mặt hàng này vẫn được giữ nguyên.26 Ngoại trừ một vài thời kỳ chuyển tiếp, các nước đang phát triển chỉ được tạo rất ít cơ hội nhận được sự đối xử đặc biệt và có phân biệt trong các địa hạt như TRIPS. Củng còn nhiều vấn đề quan trọng khác như ai được hưởng lợi từ vòng đàm phán nói chung. Theo những nghiên cứu được tiến hành trong thời gian diễn ra Vòng Uruguay, một số quốc gia châu Phi ở hạ Sahara có thể đã bị tác hại bởi những hạn chế về trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản vốn đã đem lại lợi ích cho họ, mặc dù các nước đang phát triển khác có lẽ được hưởng lợi đáng kể từ những hạn chế này (Michalopoulos 2000). Tuy nhiên, một phân tích gần đây cho thấy kết quả kinh tế nói chung có lẽ đã tỏ ra bất lợi cho các nước đang phát triển (Finger và Nogués 2001).

>> Xem thêm:  Sự vận hành của các vòng đàm phán thương mại như thế nào ?

4. Sự nhượng bộ của các nước đang phát triển trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Có lẽ điều quan trọng nhất là các quốc gia dẫn đầu đã quyết định rằng họ không còn quan tâm tới hệ thống “hai tốc độ” thể hiện trong Vòng Tokyo nữa. Cuối cùng thì giờ đây các nước đang phát triển đã thực hiện những nhượng bộ chủ yếu trong các địa hạt như sở hữu trí tuệ và dịch vụ. Nếu như họ chỉ đơn giản từ chối, không chấp nhận những bộ quy tắc mới trong các địa hạt này thì sự cân bằng căn bản dự định sẽ thiết lập trong các cuộc thương thảo sẽ bị đổ vỡ. Do đó, sự tuân thủ các bộ luật khác nhau của Vòng Uruguay giờ đây đã không còn tính chất lựa chọn nữa. Phương sách pháp lý chính thức là dành cho các quốc gia dẫn đầu về kinh tế rút ra khỏi thỏa thuận GATT nguyên thủy và rồi tham gia vào một thỏa thuận mới để tạo ra tổ chức thương mại thế giới WTO. Để gia nhập WTO đòi hỏi phải chấp nhận tất cả các điều khoản mới của GATT và những thỏa thuận mới. về mặt kinh tế các quốc gia đang phát triển bị buộc phải chấp nhận tất cả những thỏa thuận này để giữ được quy' chế tối huệ quốc khi tiếp cận thị trường các nước phát triển.27 Nhưng sự bao gồm những vấn đề mới như là sở hữu trí tuệ và dịch vụ và sự mất khả năng từ chối một số thỏa thuận nào đó cũng như mô thức đàm phán tổng quát đã khiến nhiều quốc gia đang phát triển cảm thấy Vòng Uruguay thật chua chát.

5. Các nước đang phát triển và các tiêu chuẩn môi trường, lao động

Những cuộc nổi loạn tại hội nghị bộ trưởng WTO ở Seattle chứng tỏ rằng một kỷ nguyên mới đã đến và đã có những điềm báo trước. Những mối quan tâm, những lời cảnh báo dễ nhìn thấy nhất là những cảnh báo đi cùng với các tiêu chuẩn môi trường và lao động, cả Hiệp định NAFTA và Vòng Uruguay đều hình dung trong thế giới đang phát triển một năng lực sản xuất công nghiệp lớn lao sẽ nổi lên và cạnh tranh với những lĩnh vực sản xuất có mức lương thấp của thế giới phát triển. Và vào năm 1991, một ủy ban của GATT đã đưa ra quyết định đầu tiên rằng Hoa Kỳ không thể loại trừ cá ngừ được đánh bắt theo một phương pháp không có tác dụng bảo vệ loài cá heo (xem chương 5). Mặc dù quyết định này không có hên quan chính thức, khi Mexico rút lời than phiền ngấm ngầm chống lại Hoa Kỳ của mình để giảm thiểu những ẩn ý chính trị của cuộc thương thảo gia nhập NAFTA, cùng với một số quyết định đưa ra sau đó, nó cho thấy rằng theo các quy tắc của GATT thì sẽ rất khó khăn khi loại bỏ các sản phẩm chỉ trên cơ sở quy trình sản xuất ra chúng là không tốt cho môi trường. Điều này dẫn tới việc các nhà hoạt động môi trường ở thế giới phát triển quay ra chống đối GATT vì sợ những trung tâm sản xuất mới sẽ không tôn trọng các tiêu chuẩn môi trường thích hợp. Sau đó quyết định về hoóc môn trong việc nuôi bò, cho rằng việc châu Âu áp dụng biện pháp hạn chế đối với thịt bò được nuôi dưỡng với sự trợ giúp của một số loại hoóc môn nào đó là không tương thích với WTO bởi vì quy định đó không biện minh được về mặt khoa học, đã dẫn tới việc một số quốc gia châu Âu e ngại rằng một logic tương tự cũng sẽ được áp dụng bởi một ủy ban xem xét các quy định của châu Âu hạn chế nhập khẩu các loại thực phẩm biến đổi gen. Cộng đồng lao động, cảm thấy mình có nhiều thứ bị mất do sự nổi lên của các đối thủ cạnh tranh trong các ngành lương thấp, đã gia nhập vào hàng ngũ chống đối và cố gắng đưa những điều khoản bổ sung đặc biệt về lao động và môi trường vào thỏa thuận NAFTA và đưa các mối quan tâm về lao động và môi trường này lên nghị trình chính trị chứ không chỉ là nghị trình chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO. Các nước đang phát ttiển thì phản đối việc bao hàm các chủ đề này vì sợ rằng chúng có thể được sử dụng như một hình thức của chủ nghĩa bảo hộ nhằm loại trừ sản phẩm xuất khẩu của họ.

Những mối quan tâm về lao động và môi trường có lẽ nằm trong số các động lực quan trọng nhất dẫn tới những vụ phản đối ở Seattle năm 1999. Rất nhiều người biểu tình hình dung rằng các cuộc phản đối này là nhân danh các nước đang phát triển. Thế nhưng các nước đang phát triển lại phủ nhận hoàn toàn lập trường của những người phản đối. Các nước đang phát triển thậm chí còn hoảng kinh trước sự kiện tổng thống Bill Clinton có vẻ như chấp nhận lập luận của những người biểu tình và tỏ ý muốn thúc đẩy sự dàn xếp quốc tế nhằm thiết lập các tiêu chuẩn về lao động và môi trường cho các nước đang phát triển. Lãnh đạo của các quốc gia đang phát triển lo ngại rằng những hạn chế như vậy sẽ có thể được sử dụng vào các mục đích bảo hộ, và sẽ ngăn không cho họ gia tăng xuất khẩu để cạnh tranh với các ngành công nghiệp được cơ khí hóa tốt hơn ở các quốc gia phát triển. Ngoài ra, nghị trình do Hoa Kỳ đề xuất tỏ ra quá hạn hẹp, không đáp ứng được mối quan tâm của các quốc gia đang phát triển, chẳng hạn như khả năng Hoa Kỳ sử dụng luật chống bán phá giá để loại trừ hàng xuất khẩu trong các lĩnh vực mà các nước đang phát triển có lợi thế cạnh tranh. Và trên hết, họ sợ rằng cơ chế “Phòng Xanh” sẽ được dùng để chống lại họ.

Cũng như sự đồng thuận Washington làm thay đổi khung mẫu ý thức hệ của một cuộc tranh luận bắt đầu như một sự phê phán quyền kiểm soát có tính chất bá chủ của thế giới đã phát triển, sự ủng hộ không cần bàn cãi dành cho thương mại tự do toàn cầu đã bắt đầu phai nhạt vào cuối thế kỷ trước. Dưới thời ông James Wolfensohn, Ngân hàng Thế giới tập trung nhiều hơn vào người nghèo và sự công bằng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế bắt đầu nghi ngờ một số phản ứng truyền thống của mình sau khi thấy chúng tạo ra những .hành công lộn xộn trong vụ khủng hoảng kinh tế ở Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan năm 1997. Phản ánh sự điều chỉnh ý thức hệ này, Hội nghị bộ trưởng WTO tại Doha năm 2001 tỏ ra quá nhạy cảm với nhu cầu của các nước đang phát triển, vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất về mặt chính trị là bản quyền dược phẩm và hiệp định TRIPS. Nhiều nhà phê phán ngành công nghiệp dược phẩm quốc tế lập luận rằng quyền sáng chế dẫn tới giá thuốc cao trong thế giới đang phát triển và làm cho bệnh nhân trong thế giới đó, nhất là những người bị nhiễm HIV ở châu Phi hạ Sahara không mua nổi thuốc điều trị. Mặc dù còn có nhiều vấn đề trong hệ thống y tế có hên can, quan điểm trên đây đã trở thành một trong các điểm được tranh cãi nhiều nhất trong suốt năm 2001 và nhiều người cho rằng bản thân hiệp định TRIPS cũng cần được tu chính hoặc bãi bỏ. Tuy nhiên cuối cùng người ta cũng tìm được một thỏa hiệp dựa trên các bản dự thảo đã được thương lượng giữa Brazil và một nhóm quốc gia châu Phi hùng mạnh đã được các tổ chức phi chính phủ báo cáo đầy đủ; một tuyên bố riêng biệt xác nhận một sự diễn dịch hiệp định TRIPS mà theo đó các quốc gia đang phát triển được dễ dàng hơn trong việc xử lý vấn đề quyền sáng chế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Cuối cùng ở Doha cũng đã đồng ý được nghị trình cho những cuộc thương thảo mới, phản ánh một sự thỏa hiệp giữa quyền lợi của các nước đã phát triển và các nước đang phát triển, vấn đề tiêu chuẩn lao động đã được xem xét tại một hội nghị bộ trưởng trước đó ở Singapore năm 1996. Tại hội nghị bộ trưởng đó các bên chỉ rõ rằng họ sẽ tôn trọng “bộ tiêu chuẩn lao động cốt lõi” nhưng cũng nói rõ ràng mọi cuộc thảo luận cần phải được đề cập tới sự cộng tác với Tổ chức Lao động Qụốc tế (BLO); tuy nhiên sự cộng tác đó dường như chưa bao giờ tồn tại. Doha tái khẳng định rằng các tiêu chuẩn lao động sẽ không đưa vào nghị trình thảo luận, vấn đề môi trường sẽ được đưa vào song nó được giữ trong phạm vi hẹp và những cuộc thương thảo trong lĩnh vực này sẽ được khởi động mà “không xét đoán trước kết quả”, có nghĩa là không giả định sẽ thành công. Sự kiện các cuộc đàm phán về môi trường được khởi động mà đàm phán về lao động thì không đã ngụ ý một cách bóng gió về sự rạn nứt có thể có trong các hên minh chống WTO ở các nước phương Bắc. Và trên một mặt trận hoàn toàn khác, tại Doha Hoa Kỳ đã đồng ý thương thảo việc giải thích rõ các quy tắc chống bán phá giá, một sự chấp nhận có lợi cho các nước đang phát triển song gây ngạc nhiên về mặt chính trị bởi vì tầm quan trọng của luật chống bán phá giá đối với các ngành công nghiệp sắt thép và vật liệu bán dẫn của Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, các cuộc thương thảo trong nhiều địa hạt đã phản ánh “sự đối xử đặc biệt và có phân biệt” đối với các quốc gia đang phát triển, dù vẫn chưa rõ những tuyên bố như vậy sẽ có hiệu lực như thế nào. Cuối cùng, cũng cần phải thảo luận về quyền tiếp cận thị trường mạnh mẽ hơn dành cho các quốc gia kém phát triển nhất.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

Câu hỏi liên quan Hiệp định GATT về sở hữu trí tuệ ?

Câu hỏi: Lịch sử của Hiệp định TRIPS

Trả lời:

Hiệp định TRIPS được thiết lập với ý nghĩa là một phần của Những Thoả thuận Thương mại Đa phương trong vòng Đàm phán Uruguay trong khuôn khổ Thỏa thuận chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Đây là lần đầu tiên các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại quốc tế được đàm phán trong khuôn khổ của GATT. Kết quả của các cuộc đàm phán đó được thể hiện trong Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định TRIPS là Phụ lục 1C của Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức WTO. Hiệp định có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các Thành viên WTO, được thông qua tại Marrakesh ngày 15 tháng 4 năm 1994 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1995. Hiệp định là một trong những trụ cột quan trọng nhất của WTO và bảo hộ sở hữu trí tuệ trở thành một phần không thể tách rời trong hệ thống thương mại đa phương của WTO.

Câu hỏi: Mục tiêu của Hiệp định TRIPS

Trả lời:

Mục tiêu của Hiệp định TRIPS là thúc đẩy tự do trong thương mại quốc tế bằng cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời ngăn chặn các quốc gia thành viên sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như những rào cản trong thương mại. “Một trong những hiểu lầm phổ biến nhất về Hiệp định TRIPS là mục tiêu chính của Hiệp định là đề cao bảo hộ sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, điều này không đúng. Mục tiêu chính - nếu không phải là mục tiêu duy nhất - của Hiệp định TRIPS cũng như mục tiêu của toàn bộ Thỏa thuận Thiết lập WTO là thúc đẩy tự do trong thương mại.

Câu hỏi: Các nguyên tắc của Hiệp định TRIPS

Trả lời:

Tương tự như các thoả thuận khác thuộc WTO như GATT và GATS, Hiệp định TRIPS được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc. Đó là nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, nguyên tắc minh bạch. Các vấn đề liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi, sử dụng và thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại trong Hiệp định TRIPS là đối tượng của hai nguyên tắc đầu tiên. Nguyên tắc thứ ba nhằm duy trì tính công khai, ổn định, dự báo của pháp luật sở hữu trí tuệ.