1. Trọng tâm của GATT 1947

Nước đang phát triển là một quốc gia có bình quân mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệp chưa được phát triển hoàn toàn và có chỉ số phát triển con người (HDI) cũng như thu nhập bình quân đầu người không cao. Ở các quốc gia này, ngoại trừ nhóm thiểu số (các nước công nghiệp mới) đạt đến được mức khá hoặc cao, phần lớn còn lại có thu nhập bình quân đầu người và chỉ số phát triển con người chỉ ở mức trung bình.

Trong những tháng ngày đầu tiên của mình, GATT tập trung chủ yếu vào công cuộc hạ thấp rào cản thương mại giữa các nước phát triển, cố gắng lắm các nước đang phát triển cũng chỉ là người hưởng lợi nhờ thuế quan thấp hơn và các rào cản phi thuế quan được nới lỏng. Trong những năm tháng đầu tiên ấy cũng đã có mối quan tâm rằng các nước đang phát triển có lẽ cần giữ lại thuế nhập khẩu để bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ; mối quan tâm này cúng với mối quan tâm của chính các nước đang phát triển về cán cân thương mại, đã được phản ánh trong những thay đổi đối với các điều khoản của GATT năm 1955. Vào lúc đó xuất khẩu của các nước đang phát triển bao gồm chủ yếu là hàng hóa, và Báo cáo Haberler do GATT đặt thực hiện vào năm 1958 công nhận rằng các nước đang phát triển sẽ được lợi nếu các nước phát triển hạ thấp mức thuế đánh vào hàng nông sản nhập khẩu. Vào lúc đó mọi người nghĩ rằng cần phải phát triển những cơ chế nhằm giảm thiểu sự dao động của giá hàng hóa (GATT 1958). Hạ thấp rào cản nhập khẩu thì có thể thực hiện được với một số sản phẩm nhiệt đới vì như thế là khuyến khích các nhà chế biến ở các nước công nghiệp mua nguyên liệu với giá thấp hơn; nhưng đối với các mặt hàng khác, như đường cát chẳng hạn, thì sản phẩm nhập khẩu sẽ cạnh tranh với sản phẩm của vùng ôn đới, cho nên đã có các cuộc vận động hành lang mạnh mẽ ở Hoa Kỳ và châu Âu chống lại một sự tự do hóa như vậy. Những nỗ lực bình ổn giá hàng hóa, được thương thảo phần lớn trong quỹ đạo của Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) cũng không đạt được kết quả mong muốn.

2. Các nước đang phát triển và GATT

Năm 1965 GATT thực hiện đáp ứng quan trọng đầu tiên đối với yêu cầu của các nước đang phát triển là đưa ra thêm ba điều khoản mới, như là Phần IV của Hiệp định GATT. Những điều khoản này tuyên bố tầm quan trọng của việc giúp cho các nước đang phát triển gia tăng xuất khẩu các sản phẩm thô, sản phẩm chế biến và sản phẩm chế tạo; và bao gồm những cam kết có tính chất khích lệ từ các nước phát triển là sẽ ưu tiên cải thiện quyền tiếp cận thị trường. Những điều khoản mới này là hoàn toàn chung chung và trừu tượng chứ không có tác dụng ràng buộc như phần còn lại của Hiệp định GATT. Nhưng chúng cũng đã bao gồm một tuyên bố rằng các nước phát triển không mong đợi sự có đi có lại cho những cam kết của chính họ về tháo dỡ hàng rào quan thuế và các rào cản khác đối với xuất khẩu của các nước đang phát triển. Điều này được diễn dịch, theo chú thích dưới chân trang, là trong các cuộc thương thuyết thương mại, các nước kém phát triển hơn “sẽ không được yêu cầu... thực hiện những sự đóng góp không phù hợp với sự phát triển đặc thù, với nhu cầu tài chính và thương mại của họ, cần xem xét những sự phát triển thương mại trong quá khứ’. Mặc dù rõ ràng được thiết kế để mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển, những điều khoản này lại dẫn tới kết quả là đẩy các nước đang phát triển ra xa hơn các cuộc mặc cả thiết yếu cần phải được xử lý trong các vòng đàm phán về cắt giảm thuế quan.

3. Nhiều quốc gia đang phát triển giành được độc lập

Làn sóng ban đầu về số lượng các bên hợp đồng của GATT lên đến tổng số khoảng tám mươi quốc gia vào thập niên 1970, phản ánh sự hoàn thành công cuộc trao trả quyền độc lập cho các quốc gia ở châu Phi và sự quy tụ hầu hết các quốc gia ở châu Mỹ La tinh. Chính nhóm nước thứ hai này đóng vai trò tích cực trong tổ chức hơn là nhóm nước thứ nhất, phản ánh sự tham gia ngày càng sâu rộng vào thương mại thế giới và hạ thấp sự phụ thuộc vào quyền tiếp cận có tính chất ưu đãi đối với thị trường châu Âu của các nước châu Mỹ La tinh. Nó cũng được khích lệ bởi sự lãnh đạo trí thức của châu lục này trong công cuộc tư duy lại những quan hệ kinh tế quốc tế trong thập niên 1970. Những ý tưởng mới, dựa trên học thuyết chính trị về sự phụ thuộc (dependencia) và sự quan sát kinh tế về những điều kiện thương mại xấu dần đối với việc xuất khẩu hàng hóa sơ chế, đưa đến quan niệm rằng về căn bản hệ thống kinh tế quốc tế đang có thành kiến chống lại các nước đang phát triển. Hệ quả là, điều hết sức thiết yếu là phải thay đổi tận gốc rễ cái hệ thống đó để tái lập sự cân bằng.

Từ quan điểm này, những lý lẽ và mối quan tâm sau đây đã được thúc đẩy:

- Giá của hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang phát triển không bao giờ tăng nhanh bằng giá của hàng công nghiệp nhập khẩu, vì thế kinh tế của các nước đang phát triển phải luôn luôn đối mặt với các điều kiện thương mại ngày càng xấu đi.19

- Các quốc gia phát triển bảo hộ hoạt động sản xuất của các lĩnh vực có mức lương thấp như giày da và dệt may, thông qua cơ chế hạn ngạch và thang thuế suất, và điều này khiến các nước đang phát triển không thể nào thâm nhập vào các thị trường như vậy - mà sự thâm nhập này là bước đi ban đầu trong công cuộc phát triển một nền kinh tế tiến bộ hơn.

- Các nước phát triển áp đặt giá cao một cách bất công cho công nghệ thể hiện trong sản phẩm (ví dụ dược phẩm chẳng hạn) và trong các nhà máy sản xuất cung cấp cho các nước đang phát triển thông qua đầu tư trực tiếp từ các công ty hàng đầu của châu Âu và Hoa Kỳ.

- Hệ quả là, những nước đang phát triển đang phải đối mặt với “hố ngăn cách thương mại” mà cùng với nó họ không thể nào xuất khẩu đủ để thanh toán những thứ họ cần phải nhập khẩu cho nền kinh tế và công cuộc phát triển kinh tế.

4. Các quốc gia đang phát triển đã đẩy mạnh một Trật tự Kinh tế Thế giới Mới

Kết quả của sự phân tích như thế này là, các quốc gia đang phát triển đã thông qua hàng loạt các diễn đàn khác nhau mà đẩy mạnh một Trật tự Kinh tế Thế giới Mới (NIEO). Trong những thành phần chủ yếu của nỗ lực đó có lời kêu gọi thành lập các quỹ quốc tế để bình ổn giá cả hàng hóa (bằng cách giảm sản lượng và mua dự trữ khi giá cả xuống thấp và bán hàng hóa dự trữ ra thị trường khi giá cả lên cao), dàn xếp mức thuế quan ưu đãi có lợi cho các nước đang phát triển, và hạn chế những hợp đồng nhượng quyền công nghệ quốc tế được thiết kế để cấm những phương thức trong đó các chủ thương hiệu ở các nước phát triển có thể lợi dụng những người nhận quyền ở các nước đang phát triển. Một trong những nhân vật tiêu biểu cho trật tự mới là Raúl Prebisch, Tổng thư ký đầu tiên của UNCTAD - tổ chức được thành lập năm 1964. Dưới sự lãnh đạo của ông, UNCTAD trở thành một định chế có vai trò phát triển và đề cao vai trò của khối nước đang phát triển trong các vấn đề thương mại. Cùng lúc đó, G-77, một tập hợp các nước đang phát triển hoạt động dưới sự lãnh đạo về trí thức của Ấn Độ và Brazil, nổi lên như một khối vận động hành lang nhằm phản ánh lập trường của các nước đang phát triển ở các diễn đàn như GATT và Liên hiệp quốc.21 Vài năm sau, thành công của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) trong việc hình thành một tập thể nhằm nâng giá dầu thô đã làm gla tăng động lực cho các ý tưởng thể hiện trong Trật tự Kinh tế Thế giới Mới.22 Các nước đang phát triển đã tiến lên vũ đài quốc tế, nếu không phải với tư cách đối tác bình đẳng thì ít ra cũng với những ý tưởng của riêng họ.

5. Nhiều khu vực kinh tế được hình thành

Sự nổi lên của các nhu cầu từ các nước đang phát triển đòi sự đối xử ưu đãi đã đặt ra một số thách thức cho GATT. Nhưng logic của sự đối xử có phân biệt không phải là cái gì xa lạ với GATT. Tổ chức thương mại này, từ tiền thân của nó là những cuộc thảo luận về Tổ chức Thương mại Quốc tế ITO, đã nói rõ ràng các quốc gia có thể hình thành những tổ chức khu vực bổ sung cho cơ chế đa phương, ở châu Âu, thương mại khu vực đã được chấp nhận như một phần của bối cảnh kinh tế. Các nước đang phát triển bắt đầu nhìn vào các thỏa thuận ấy như là một “chính sách bảo hiểm” cho các quốc gia nhỏ bé hơn - những người sợ rằng chuyên môn hóa nền kinh tế sẽ làm cho họ dễ bị tổn thương trước những chuyển dịch trong chính sách của các đối tác thương mại lớn hơn. Năm 1960 phần lớn các quốc gia châu Mỹ La tinh đã thành lập nên Khu vực Thương mại Tự do châu Mỹ La tinh (LAFTA) nhắm tới công cuộc hợp lý hóa sản xuất trong khu vực. Năm 1969 một nhóm thương mại khu vực khác, nhóm Hiệp ước Andean, được thành lập bởi một số quốc gia Nam Mỹ nhằm tạo ra một khối thống nhất trong việc đàm phán các điều kiện đầu tư từ các doanh nghiệp của thế giới phát triển với hy vọng điều này sẽ giúp cải thiện các điều kiện tiếp cận; sáng kiến chủ yếu của nó là Quyết định 24, một tiêu chuẩn chung điều hành những điều kiện tiếp cận công nghệ và đòi hỏi sự tham gia của quốc gia vào quyền sở hữu các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Năm 1963, Liên minh châu Âu thành lập nên Công ước Yaounde (cải tiến năm 1975 thành Công ước Lomé và vào năm 2000 thành Hiệp định Cotonou) - một thỏa thuận có hơn bảy mươi thành viên là các thuộc địa cũ, nhất là ở châu Phi và biển Caribbean, trong đó bao hàm các điều khoản cung cấp cho các quốc gia này quyền tiếp cận các thị trường châu Âu được hoàn toàn miễn thuế dù là trên căn bản không cần phải có đi có lại.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)