Mặc dù nhìn chung các nhà kinh tế học đều đồng ý rằng thương mại tự do là quyền lợi của các nước đang phát triển, nhưng lãnh đạo các quốc gia này thường né tránh chính sách ấy. Sự mâu thuẫn tư tưởng chung quanh vấn đề thương mại tự do đã khuyến khích hình thành các liên minh và những tập hợp lỏng lẻo các quốc gia đang phát triển trong cơ cấu của WTO. Ở đây chúng ta sẽ bàn về ba tập hợp như vậy, dù rằng tư cách thành viên của họ không dễ gì xác định được.

1. Nhóm các quốc gia nghèo khó nhất thế giới

Đối với một số các quốc gia nghèo khó nhất thế giới, bao gồm phần lớn các nước châu Phi hạ Sahara và một số nước nghèo ở châu Á và vùng biển Caribbean, thương mại tự do tạo điều kiện nhập khẩu vốn liếng với giá thấp nhưng các quốc gia này lại có rất ít thứ để xuất khẩu (ngoại trừ trong một số trường hợp có xuất khẩu hàng hóa, mà hàng hóa là ít năng động nhất trong các địa hạt xuất khẩu), và có lẽ cũng thiếu các nguồn tài nguyên cần thiết để sản xuất ra hàng hóa xuất khẩu. Thương mại tự do không bao giờ là điều kiện đủ cho sự phát triển, mặc dù có thể là điều kiện cần. Các quốc gia nghèo khó này có thể bị tác hại bởi hiệp định TRIPS nếu họ bị buộc phải tạo ra các hệ thống bản quyền, dẫn tới việc họ phải trả giá cao hơn cho một số sản phẩm như dược phẩm chẳng hạn; những lợi ích của quyền sáng chế có lẽ sẽ không bao giờ có trong thị trường của chính họ bởi vì các quốc gia này quá nhỏ bé đến mức ít có khả năng phát triển các sản phẩm mới vì lợi ích của chính họ.

2. Nhóm các quốc gia có nhiều thứ để gặt hái

Tiếp theo là một tập hợp kinh tế gồm các quốc gia có nhiều thứ để gặt hái ngay lập tức từ cơ chế thương mại tự do bởi vì họ có thể tận dụng những lợi ích thương mại từ việc xuất khẩu các hàng hóa có mức lương thấp, ở đây có một lợi ích rõ ràng trong thương mại quốc tế và chúng ta thấy các quốc gia cố gắng chuyển hóa một lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hóa có mức lương rất thấp (như hàng dệt chẳng hạn) thành lợi thế so sánh trong các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn kế tiếp, chẳng hạn như sản xuất xe hơi và rồi chế tạo các thiết bị chính xác. Tuy nhiên, quá trình này có thể sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với trước kia vì sự cạnh tranh bây giờ rất khốc liệt. Có những áp lực cạnh tranh để giữ tiền lương ở mức thấp, để công việc làm không chảy xuống những quốc gia kế tiếp trên bậc thang kinh tế, khiến cho việc duy trì công bằng xã hội giữa các quốc gia càng trở nên khó khăn hơn. Các thị trường mở gia tăng cạnh tranh đối với các sản phẩm tinh vi hơn, được sản xuất bởi lực lượng lao động thành thạo hơn làm cho việc tham gia vào các lĩnh vực tân tiến hơn đó trở nên khó khăn hơn nhiều. Và bởi vì thương mại tự do và toàn cầu hóa sản xuất, cách tiếp cận ngành công nghiệp non trẻ theo kiểu truyền thống sẽ không còn nữa (ngay cả trong một vài tình huống kinh tế lối tiếp cận ấy tỏ ra khôn ngoan).

3. Nhóm các quốc gia đang vận động để phát triển các ngành công nghiệp tinh vi

Một nhóm thứ ba nổi lên như là các quốc gia đang vận động để phát triển các ngành công nghiệp tinh vi hơn của riêng họ. ở đây, vấn đề là ở chỗ công cuộc toàn cầu hóa nổi lên dưới sự bùng nổ thương mại trong khuôn khổ GATT/ WTO và những điều khoản phi thương mại mới của WTO tác động tới sức cạnh tranh của các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển hoặc là làm họ suy yếu thành những công ty con của các tập đoàn đa quốc gia từ trước tới nay vẫn đặt tại các nước đã phát triển. Đây là những vấn đề của các quốc gia đang phát triển có trình độ khá hơn về khoa học và công nghiệp hóa như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và của các nước xã hội chủ nghĩa cũ như Nga. Thật khó cho doanh nghiệp ở các quốc gia này cạnh tranh với các doanh nghiệp đang tồn tại đang hoạt động với nền kinh tế quy mô toàn cầu về mặt sản xuất các loại hàng hóa sử dụng nhiều vốn hoặc các loại linh kiện phụ tùng xe hơi. Hay là các doanh nghiệp mới sẽ bị ngăn không cho tham gia vào một thị trường nào đó bằng biện pháp sở hữu trí tuệ do các công ty hàng đầu hiện thời nắm giữ. Và luôn luôn có nỗi lo sợ rằng các công ty ở thế giới đã phát triển, hoạt động kinh tế quy mô lớn, có vẻ như muốn loại các công ty của thế giới đang phát triển ra khỏi các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, và viễn thông. Những vấn đề này không chỉ là vấn đề đối với các nền kinh tế của các lĩnh vực này - sẽ có vốn đầu tư và việc làm - nhưng ở một số nơi đó sẽ là vốn đầu tư được kiểm soát bởi các tập đoàn đa quốc gia toàn cầu và khó mà xuất hiện nổi các tập đoàn đa quốc gia mới ở các quốc gia kém phát triển.

>> Xem thêm:  Sự vận hành của các vòng đàm phán thương mại như thế nào ?

4. Các nước đang phát triển yếu thế trong các cuộc thương thuyết thương mại quốc tế

Theo truyền thống thế giới đang phát triển thiếu sức mạnh mặc cả trong các cuộc thương thuyết thương mại quốc tế. Sức mạnh trong định chế thương mại bao giờ cũng đi đôi với sức mạnh thị trường - quốc gia nào có khả năng đe dọa đóng cửa thị trường hoặc cung cấp cơ hội thông qua quyền tiếp cận thị trường của họ thì theo truyền thống sẽ nắm được quyền lực trong định chế bất chấp hệ thống mỗi quốc gia chỉ được bỏ một phiếu. Mặc dù nguyên tắc chính thức là nguyên tắc đồng thuận, cơ sở hiển nhiên của quyền lực thực thụ trong tổ chức WTO chính là tầm vóc của thị trường nhập khẩu vì sức mạnh mặc cả và dàn xếp tranh chấp phụ thuộc vào mối đe dọa không cho các nhà xuất khẩu tiếp cận một thị trường đặc biệt nào đó. Từ đó trở đi, quyền lực thật sự nằm trong tay Hoa Kỳ và châu Âu, những người có đủ các biện pháp khích lệ về kinh tế để ký kết với thế giới đang phát triển những hợp đồng cung cấp cho họ một phần lợi ích thương mại nhỏ nhoi hơn phần mà các đối tác ở thế giới đã phát triển nhận được.31

Việc mở rộng chương trình nghị sự của WTO cũng có một tác động ngẫu nhiên là làm lộ ra những giới hạn đối với quyền lực của Hoa Kỳ và châu Âu. Trong khi trước đây chỉ riêng kích cỡ của thị trường không thôi đã quy định ai ngồi “vào vị trí nào trên bàn đàm phán” thì giờ đây những chính sách và quyền lợi của thế giới đang phát triển chiếm vị trí trung tâm các cuộc tranh luận. Như vậy, sự cân bằng quyền lực trước kia từng nâng đỡ các quy trình trong “Phòng Xanh” giờ đây trở nên cốt yếu và quy định một sự thay đổi trong quyền tiếp cận vào tập thể nội bộ. Như đã biểu thị tại Doha, các nước châu Phi đã tập hợp thành một khối có hiệu năng và nhận được quyền đại diện to lớn hơn trong các cuộc thương thảo có tính chất nội bộ cấp cao.

Điều này không có nghĩa là cán cân quyền lực đã lại được cân bằng. Hơn thế nữa, trong lĩnh vực chủ yếu là cấm vận sẵn có trong tranh chấp thương mại và tiến trình dàn xếp tranh chấp, quyền lực vẫn còn thuộc về các quốc gia có thị trường rộng lớn. Một quốc gia đang phát triển đang lệ thuộc vào thị trường Hoa Kỳ thì có thể làm được gì khi muốn thách thức Hoa Kỳ về mặt pháp lý trong khuôn khổ các quy tắc của WTO? Quy trình chính thức của WTO thì đã có sẵn mà cũng có thể WTO sẽ đưa ra một quyết định tích cực - những quốc gia đó có thể băn khoăn liệu có đáng chấp nhận rủi ro để chọc giận Hoa Kỳ hay không. Ngoài ra, việc áp đặt lệnh cấm vận thương mại của một nước đang phát triển đối với một quốc gia đã phát triển từ chối thi hành quyết định cấm vận đó rất dễ dẫn tới sự bất lợi cho chính bản thân nước đang phát triển.

5. Các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều sư không đối xứng khác trong tổ chức WTO

Lâu nay họ vẫn than phiền rằng họ thiếu thông tin và chuyên môn nghiệp vụ cần thiết cho việc tham gia có hiệu quả vào hệ thống đàm phán thương mại. Trong những cuộc thảo luận thương mại trong các địa hạt có tính chất kỹ thuật như hiệp định TRIPS, quy tắc về ngân hàng và viễn thông quốc tế và những vấn đề môi trường liên quan tới thương mại chẳng hạn, Hoa Kỳ có thể bố trí một đoàn đại biểu đông đảo các chuyên gia đầu ngành - những người được đào tạo rất tốt cả về các vấn đề kinh tế và chính trị đang đặt ra trên bàn trong khi đa số các nước đang phát triển thì trái lại, họ gửi tới bất kỳ đại biểu nào họ có trong thành phố nơi diễn ra các cuộc thương thảo, thường là những người không có chuyên môn sâu về lĩnh vực đang được thảo luận. Thật vậy, hai mươi quốc gia thành viên WTO là các nước đang phát triển không có phái đoàn đại diện thường trực tại trụ sở của tổ chức này ở Geneva, và kích cỡ bình quân của một phái đoàn các nước đang phát triển tại Geneva thì chưa bằng một nửa so với phái đoàn của một nước đã phát triển;32 mà đây là tính toán trên cơ sở mỗi tuần bình quân WTO có khoảng bốn mươi cuộc hội họp. Khi các cuộc thương thảo ngày càng tiến tới các biện pháp “sau biên giới” thì các cơ quan bị ảnh hưởng có thể sẽ không biết kết quả của các cuộc đàm phán này cho đến khi chúng đã kết thúc. Một nước nhỏ hoặc là một nước chỉ có ít những người giỏi thì không đủ nhân sự để chuẩn bị và tham gia tất cả các cuộc đàm phán quốc tế quan trọng ở cấp độ khu vực và thế giới mà nước đó thật sự có phần.

Cuối cùng việc thay đổi quy mô của tổ chức này đã đem lại cho các nước đang phát triển vô vàn khó khăn trong việc điều chỉnh cho phù hợp. Khi mà trọng tâm hoạt động của tổ chức này còn là thương thảo về các mức thuế nhập khẩu thì các thành viên chỉ phải đối mặt với một nhiệm vụ tương đối đơn giản là điều chỉnh biểu thuế suất của mình. Nhưng giờ đây đối với các nước nghèo các đòi hỏi lớn lao hơn nhiều. Ví dụ, cần phải thành lập một cơ quan về bản quyền sáng chế và đưa ra một cơ chế bảo vệ bản quyền cấp quốc gia. Đê’ phù hợp với quy tắc của WTO trong những địa hạt như dịch vụ chẳng hạn đòi hỏi phải có hệ thống luật pháp hành chính tương đương và phải phát triển những quy tắc điều hành đặc thù trong các lĩnh vực công nghệ cao hơn. Trong một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp nhà nước thì cần phải phát triển các quy trình thủ tục khuyến khích sự phân cấp hoặc những dàn xếp khác cho phép các công ty nước ngoài cạnh tranh với các định chế quốc gia. Sự phù hợp thường có giá đắt xét về đòi hỏi về nguồn nhân lực và có thê’ sinh ra những khó khăn chính ttị khi phải có những thay đổi nền tảng trong cơ cấu điều hành.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Liên minh châu Âu (EU)

Câu hỏi thường gặp về khó khăn khi toàn cầu hóa thương mại ?

Câu hỏi: Những thuận lợi khi Việt Nam gia nhập WTO?

Trả lời:

- Việt Nam sẽ được hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN) và những đãi ngộ quốc gia khác (NT) nếu như  chúng được áp dụng từ tất cả các thành viên của WTO.

- Gia nhập WTO sẽ dần từng bước ổn định được thị trường xuất khẩu.

- Gia nhập WTO, chúng ta sẽ đẩy nhanh hơn nữa việc xây dựng, điều chỉnh và tăng cường chính sách và cơ chế quản lý, điều hành nền kinh tế của mình cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.

Câu hỏi: Khi gia nhập WTO Việt Nam gặp những thách thức gì?

Trả lời:

-  Khi đàm phán gia nhập WTO, để có thể thay đổi hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với những quy định của WTO không phải ngày một ngày hai mà  tiến  hành ngay.

- Chúng ta sẽ bị WTO yêu cầu phải có những cam kết rất cụ thể về doanh nghiệp nhà nước.

-  Khi xảy ra tranh chấp với các nước thành viên của WTO, nhất là các nước phát triển, nhìn chung chúng ta ở vị trí yếu thế hơn.

 

Câu hỏi: Việt Nam gia nhập vào WTO vào ngày tháng năm nào?

Trả lời:

Ngày 11/1/2007 tại trụ sở WTO tại Geneva, Thụy Sĩ, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức được Tổ chức Thương mại thế giới WTO tiến hành nghi lễ trao thẻ thành viên chính thức. Như vậy, Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO vào ngày 11/1/2007.