1. Phương pháp truyền đạt thông tin 

Phương pháp truyền đạt thông tin là phương pháp chủ thể hoạt động tư pháp sử dụng những thông tin có liên quan đến các vấn đề người tham gia tố tụng, phạm nhân đang quan tâm để tác động đến họ, làm thay đổi nhận thức, làm xuất hiện những cảm xúc nhất định và dẫn đến những thay đổi trong thái độ và hành vi của người tham gia tố tụng, phạm nhân đáp ứng yêu cầu của hoạt động tư pháp.
Nội dung của phương pháp truyền đạt thông tin là sử dụng những thông tin có ý nghĩa với đối tượng làm phương tiện tác động đến tâm lý của họ để đạt những mục đích nhất định. Các thông tin này, sau khi được tiếp nhận, sẽ đi sâu vào các quá trình trí tuệ, làm thay đổi nhận thức, làm xuất hiện những xúc cảm và dẫn đến những thay đổi trong thái độ và hành vi của người tiếp nhận thông tin. Chẳng hạn như, một đối tượng đã không chịu khai nhận hành vi bắn chết người mà nại ra rằng, trong lúc giằng co giữa anh ta với nạn nhân thì súng bị cướp cò và nổ vào người nạn nhân. Điều tra viên liền đọc cho anh ta nghe kết luận của bản giám định pháp y về vết đạn trên người nạn nhân. Những thông tin đó khiến anh ta thấy không thể chối cãi được và cúi đầu nhận tội.
Trong hoạt động tư pháp, những thông tin được dùng để truyền đạt đến người tham gia tố tụng phải có tính khách quan, những thông tin có ý nghĩa đối với người bị tác động. Phương pháp truyền đạt thông tin được sử dụng rộng rãi trong tất cả các giai đoạn tố tụng. 
Chủ thể tác động (điều tra viên; kiểm sát viên; thẩm phán; cán bộ quản giáo trại giam…) sử dụng nhiều phương thức truyền đạt thông tin đến người bị tác động, có thể tác động bằng ngôn ngữ nói, bằng ngôn ngữ viết, có thể dùng tài liệu, hình ảnh, bằng hình, băng ghi âm hoặc những đồ vật cụ thể (cái búa, con dao, súng…). Thông tin có thể được chủ thể tác động truyền đạt dưới những dạng thức ngữ pháp như dạng câu hỏi, câu cảm thán, câu tường thuật, câu khẳng định và câu phủ định.
Hình thức của phương pháp truyền đạt thông tin rất đa dạng. Có thể dùng lời nói, có thể dùng tài liệu, ảnh, băng hình, băng ghi âm hoặc những đồ vật cụ thể (con dao, cái búa, hòn đá...). Hình thức truyền đạt thông tin cũng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong hoạt động điều tra, có những trường hợp cơ quan điều tra đưa tin qua người thứ ba, qua dư luận hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, tivi...) đánh động đối tượng phạm tội đang lẩn trốn, làm họ hoang mang, dao động và từ đó quyết định đầu thú.
Phương pháp truyền đạt thông tin thường được sử dụng trong những trường hợp sau:
- Khi cần làm tăng tri thức, hiểu biết của người tiếp nhận thông tin. Chẳng hạn, trong quá trình nghị án, thẩm phán có thể dùng phương pháp truyền đạt thông tin để giúp hội thẩm nắm bắt được những quy định cụ thể của pháp luật.
- Khi cần giúp người tham gia tố tụng tái hiện những tình tiết bị quên hoặc nhầm lẫn.Việc tiếp nhận thông tin sẽ làm tích cực hoá hoạt động trí tuệ của người tham gia tố tụng, làm xuất hiện trong đầu óc họ những liên tưởng, tạo khả năng nhớ lại tình tiết bị quên.
- Khi cần làm thay đổi thái độ, lập trường của người tham gia tố tụng. Việc cung cấp thông tin tạo điều kiện để người tham gia tố tụng phân tích, xem xét lại thái độ và quyết định của mình, làm xuất hiện khả năng thay đổi quyết định đó.
- Khi cần làm xuất hiện những xúc cảm, tình cảm nhất định, hoặc thay đổi trạng thái cảm xúc của người tham gia tố tụng. Những thông tin có ý nghĩa đặc biệt được đưa ra vào thời điểm bất ngờ, tác động mạnh lên người bị tình nghi, bị can, bị cáo... làm họ không tự chủ được và phải từ bỏ thái độ ngoan cố của mình.
Yêu cầu khi sử dụng phương pháp truyền đạt thông tin:
- Một là, phải nghiên cứu, nắm vững tâm lý của người bị tác động nhất là những yếu tố tâm lý đang kìm hãnh hành động khai báo của đối tượng.
- Hai là, thông tin dùng để tác động phải phù hợp với mục đích của quá trình tác động, phải đảm bảo tính khách quan. Vì vậy, trước khi sử dụng những thông tin đó cần thẩm tra, xác minh một cách cẩn thận đảm bảo thông tin đó có tính chân thực cao.
- Ba là, những thông tin dung để tác động phải gợi được những suy nghĩ mới đối với người bị tác động.
- Bốn là, phải đảm bỏa tính bất ngờ của thông tin truyền đạt để tạo nên sự sửng sốt, lúng túng, bị động ở người bị tác động.
- Năm là, phải quan sát biểu hiện thái độ cảm xúc của người bị tác động sau mỗi lần tác động qua đó để đánh giá diễn biến tâm lý của họ và điều chỉnh quá trình tác động cho phù hợp. 

2. Phương pháp thuyết phục

Phương pháp thuyết phục là phương pháp chủ thể hoạt động tư pháp sử dụng lý lẽ để lập luận, phân tích, giải thích nhằm giúp người tham gia tố tụng, phạm nhân nhận rõ đúng, sai, phải, trái, thiệt, hơn về các vấn đề liên quan tới họ, qua đó làm cho người tham gia tố tụng, phạm nhân thay đổi thái độ, nhận thức, quan điểm, đáp ứng yêu cầu của hoạt động tư pháp.
Nội dung của phương pháp thuyết phục là đưa ra những sự kiện, những tình huống cụ thể, phân tích, giải thích giúp đối tượng thấy rõ đúng, sai, lợi, hại, tốt, xấu... nhằm thay đổi thái độ, quan điểm, lập trường của họ, hoặc xây dựng quan điểm mới. Chẳng hạn như, khi tham gia tranh luận, để bào chữa cho bị cáo có hành vi giết người trong tình trạng thần kinh bị bị kích động mạnh, luật sư có thể đưa ra đề nghị về mức án theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và phân tích tác dụng của việc giảm nhẹ mức hình phạt đó đối với việc giáo dục bị cáo, từ đó mà tác động tới Hội đồng xét xử. 
Phương pháp thuyết phục được thực hiện bằng nhiều hình thức: 
- Thuyết phục lôgic: Hình thức này là thông qua sự phân tích, lập luận chặt chẽ để tác động vào nhận thức của đối tượng, từ đó dẫn đến sự thay đổi về thái độ, lập trường của họ.
- Thuyết phục tình cảm: Hình thức này chủ yếu tác động vào lĩnh vực tình cảm, gợi lên những xúc cảm, tình cảm tích cực có lợi cho việc thay đổi thái độ, lập trường của đối tượng.
- Thuyết phục thông qua cổ động, tuyên truyền: Hình thức này tác động vào nhận thức của nhiều người nhằm giúp họ có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về một vấn đề nào đó. Chẳng hạn, thông qua cổ động, tuyên truyền pháp luật mà thuyết phục người dân về sự cần thiết phải sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
Khi sử dụng phương pháp thuyết phục cần phải chú ý:
- Luận điểm đưa ra phải rõ ràng và có cơ sở. Sự phân tích các luận điểm đó cần có những dẫn chứng cụ thể minh hoạ.
- Lời nói phải ngắn gọn và có trọng tâm, không nên dài dòng, tràn lan. Ngôn ngữ và cách lập luận phải phù hợp với khả năng nhận thức của đối tượng.
- Không nên tìm mọi cách để áp đặt quan điểm của mình và chỉ tập trung phê phán đối tượng…Khi thuyết phục hay tranh luận cần tôn trọng đối tượng bằng cách bình tĩnh lắng nghe, thừa nhận những điểm có lý trong ý kiến của họ. Làm như vậy đối tượng sẽ trở nên dễ bị thuyết phục hơn khi ta trình bày, chứng minh lẽ phải của mình.
- Cần tác động đồng thời đến cả nhận thức, tình cảm và ý chí của đối tượng. Nhận thức là điều kiện quan trọng để con người đi đến một quyết định, một việc làm nào đó. Tuy nhiên, chỉ có nhận thức không thôi thì chưa đủ. Trong cuộc sống, nhiều người biết sai vẫn làm. Đó là vì mong muốn làm theo cái đúng ở họ chưa đủ lớn, ý chí chưa đủ mạnh để từ bỏ cái sai và đi theo cái đúng. Do đó trong thuyết phục, ngoài việc phân tích, lập luận, chứng minh cho đối tượng thấy rõ lẽ phải, con đường nên đi, ta còn cần biết gợi những tình cảm nhất định, động viên, khuyến khích đối tượng đi theo con đường mà  ta đã chỉ ra.
- Ngoài ra, chủ thể tác động phải nghiên cứu, nắm vững các đặc điểm tâm lý của người bị tác động, nhất là nhận thức, quan điểm, quan niệm, niềm tin, tình cảm…chi phối đến sự khai báo của họ. Phải phân tích, hiểu rõ tính chất, mức độ bền vững của mỗi yếu tố chi phối nói trên để có sự phân tích cho phù hợp. Chủ thể hoạt động tư pháp cần phải chuẩn bị những tri thức, kinh nghiệm, sự hiểu biết cần thiết, phù hợp với vấn đề, lĩnh vực cần phân tích, lập luận.
Thuyết phục là một nghệ thuật. Để thuyết phục người khác, ta phải có khả năng hùng biện, phải nắm bắt được tâm lý, những mâu thuẫn, những dao động của họ. Đồng thời, phải biết kết hợp các biểu cảm ngôn ngữ với các biểu cảm phi ngôn ngữ, biết sử dụng các thủ thuật gây sự chú ý và duy trì nó trong suốt quá trình thuyết phục. Trong những trường hợp phức tạp, ta phải đi dần từng bước để tiến tới chinh phục hoàn toàn đối tượng.
Trong hoạt động tố tụng, phương pháp thuyết phục được sử dụng rất phổ biến. Đối tượng thuyết phục ở đây không chỉ là người tham gia tố tụng, mà trong những trường hợp cụ thể còn là những người tiến hành tố tụng. Chẳng hạn, trong quá trình tranh luận tại phiên toà, mục đích cuối cùng của các bên tham gia tranh luận là thuyết phục Hội đồng xét xử về tính đúng đắn, hợp tình hợp lý của cách nhìn nhận, đánh giá vụ án và của những đề xuất mà họ đưa ra.

3. Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển

Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa con người với con người nhằm thực hiện những mục đích nhất định. Đặc biệt, giao tiếp trong hoạt động tư pháp luôn diễn ra sự tác động qua lại giữa các chủ thể, biểu hiện ở những thay đổi về xúc cảm và hành vi, ở sự đồng tình, hậu thuẫn hay mâu thuẫn, chống đối của chủ thể này đối với chủ thể khác. Chính vì vậy trong hoạt động tố tụng, giao tiếp còn được sử dụng như một phương pháp tác động tâm lý. Trong trường hợp này, các quan hệ giao tiếp với đối tượng tác động được chủ thể tác động thiết lập, điều khiển nhằm hướng và tăng cường sự tác động lên tâm lý của họ để đạt mục đích mong muốn. 
Phương pháp giao tiếp có điều khiển là phương pháp chủ thể hoạt động tư pháp thiết lập, điều khiển và sử dụng các quan hệ giao tiếp của người tham gia tố tụng, phạm nhân để hướng và tăng cường sự tác động lên tâm lý của họ, nhằm đạt được mục đích mong muốn, đáp ứng yêu cầu cụ thể của hoạt động tư pháp.
Phương pháp giao tiếp có điều khiển được chủ thể hoạt động tư pháp sử dụng thường xuyên, rộng rãi trong các giai đoạn tố tụng, nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án và giáo dục cảm hóa bị can, bị cáo, phạm nhân, người làm chứng… Chẳng hạn, trong hoạt động hỏi cung, điều tra viên thiết lập tiếp xúc tâm lý với bị can, điều này tạo điều kiện cho việc xác lập mối quan hệ tâm lý thuận chiều giữa điều tra viên và bị can trong suốt quá trình hỏi cung. Trong hoạt động đối chất, điều tra viên hoặc thẩm phán thiết lập giao tiếp giữa người đối chất và người bị đối chất để giải quyết những mâu thuẫn trong các thông tin do họ đưa ra, nhằm làm thay đổi thái độ khai báo của họ.

4. Phương pháp mệnh lệnh

Mệnh lệnh là phương pháp cưỡng chế tâm lý, đòi hỏi đối tượng tác động phải thực hiện, hoặc chấm dứt ngay một hành động nào đó, không phụ thuộc vào ý muốn của họ. Chẳng hạn, khi khám xét một địa điểm nào đó, điều tra viên sử dụng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc đối tượng có liên quan phải thực hiện những hành vi nhất định, phục vụ cho việc khám xét. Trong trường hợp này, đối tượng phải có nghiã vụ chấp hành ý chí của điều tra viên.
Để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả, việc sử dụng phương pháp mệnh lệnh trong hoạt động tố tụng hình sự là cần thiết. Tuy nhiên, do tính cưỡng chế cao nên đối tượng bị tác động sẽ không có sự tự do về mặt ý chí. Việc sử dụng phương pháp này cần thận trọng để tránh vi phạm quyền công dân. Trong hoạt động tố tụng hình sự, phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở giai đoạn thi hành án nhằm giáo dục phạm nhân, đưa họ vào nề nếp của trại giam, tạo cho họ những thói quen, những khuôn mẫu hành vi mới phù hợp với yêu cầu của xã hội.

5. Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy

Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy là phương pháp chủ thể hoạt động tư pháp đưa ra các câu hỏi liên quan đến các tình tiết xảy ra của vụ án hoặc liên quan đến lời khai không đúng sự thật của người tham gia tố tụng, phạm nhân để kích thích, định hướng và phát triển hoặc thay đổi quá trình tư duy ở người tham gia tố tụng, phạm nhân, đáp ứng yêu cầu của hoạt động tư pháp.
Bản chất của phương pháp này trong hoạt động tư pháp là việc chủ thể hoạt động tư pháp đặt ra nhiệm vụ định hướng, phát triển các quá trình tư duy ở người tham gia tố tụng, thông qua việc đặt ra một loạt câu hỏi chi tiết để khám phá sự hiểu rõ ràng về một khối lượng lớn những thông tin của người tham gia tố tụng đã đưa ra lời khai man về sự kiện. Chẳng hạn như: trong hoạt động điều tra, trường hợp người làm chứng đã khai man rằng suốt buổi tối anh ta chơi cùng với bị can ở phòng riêng của bị can, điều tra viên có thể tác động bằng một loạt câu hỏi đưa ra đối với người làm chứng (còn ai ở trong phòng nữa, ai ngồi, ai làm gì? Kể lại chi tiết của câu chuyện? các chi tiết của hành động, ai đi ra đầu tiên, ai gọi điên thoại, họ mặc quần áo gì, uống gì và uống cốc nào, đồ nhắm là gì?...). Kết quả cuối cùng là người làm chứng không có những thông tin cần thiết để trả lời những câu hỏi đó, bởi vì thực tế sự kiện đó không diễn ra. Thông qua phương pháp này mà người làm chứng sẽ từ bỏ thái độ khai báo không thành khẩn. Hoặc trong hoạt động xét xử, Thẩm phán đặt ra cho bị cáo những câu hỏi có liên quan đế sự việc, thông qua việc tiếp nhận những câu hỏi này, bị cáo tư duy và nhớ lại những tình tiết cần thiết. 
Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy thường được sử dụng trong những trường hợp sau đây:
- Giúp người tham gia tố tụng đặc biệt là người làm chứng, người bị hại nhớ lại tình tiết bị quên. Trong trường hợp này, câu hỏi đặt ra nhằm tác động đến tư duy và trí nhớ của đối tượng. Câu hỏi sẽ có tác dụng tích cực hoá hoạt động trí tuệ, hoạt động trí nhớ của người cung cấp thông tin, làm xuất hiện trong đầu óc họ những liên tưởng giữa vấn đề được nêu lên với các tình tiết liên quan, tạo khả năng nhớ lại tình tiết mà họ đã quên.
- Thay đổi thái độ, quan điểm, lập trường của đối tượng tác động. Trong trường hợp này, câu hỏi đặt ra nhằm tác động đến tư duy và từ đó ảnh hưởng đến thái độ, tình cảm của đối tượng, làm xuất hiện những thái độ và xúc cảm cần thiết. 
Nhận thức của mỗi người, dù ở mức độ nào, luôn bị chi phối bởi đặc điểm tâm lý, điều kiện hoàn cảnh thực tế, vị trí tố tụng... của người đó. Khi phân tích, đánh giá tình huống để đưa ra những quyết định hành động, để xác định thái độ, quan điểm, lập trường của mình, không phải khía cạnh nào, mặt nào, vấn đề nào cũng được xem xét và xem xét một cách kỹ lưỡng. Vì vậy, việc nêu lên những vấn đề bị bỏ sót hoặc ý nghĩa của chúng chưa được nhìn nhận một cách đầy đủ sẽ giúp con người xem xét lại quyết định, thái độ, lập trường của mình, tạo khả năng thay đổi chúng. Với ý nghĩa này, phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy không những được sử dụng trong hoạt động  điều tra, trong xét hỏi tại phiên toà, trong tranh luận tại phiên toà mà cả trong quá trình giam giữ, cải tại phạm nhân.
- Đấu tranh với đối tượng có thái độ khai báo gian dối. Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy đấu tranh rất hiệu quả đối với đối tượng có thái độ khai báo gian dối bởi vì:
Thứ nhất, sự chuẩn bị lời khai man của bị can, bị cáo luôn mang tính chủ quan, không thể bao quát toàn bộ tình huống thực tế. Việc nêu liên tiếp nhiều câu hỏi về những vấn đề khác nhau sẽ làm họ lúng túng, bị động khi gặp vấn đề chưa chuẩn bị và trả lời dễ mâu thuẫn với những gì đã khai báo.
Thứ hai, sự lưu giữ cùng một lúc trong đầu óc hai nội dung về vụ án (một được chuẩn bị để đối phó và một là diễn biến khách quan của vụ án) là rất phức tạp. Việc phải trả lời liên tiếp nhiều câu hỏi khác nhau càng làm cho họ căng thẳng và dễ nhầm lẫn giữa hai nội dung trên, làm xuất hiện mâu thuẫn trong chính lời khai báo của họ.
Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy có thể thực hiện bằng ba hình thức:
- Đặt câu hỏi về những vấn đề liên quan trực tiếp tới hoạt động phạm tội của đối tượng. 
- Đặt ra các câu hỏi chi tiết, cụ thể xung quanh sự kiện, xung quanh vấn đề mà họ khai báo không đúng sự thật buộc họ phải liên tục giải quyết các nhiệm vụ của tư duy. 
- Đặt câu hỏi khác với quá trình tư duy diễn ra ở đối tượng để họ phải tư duy theo hướng khác với sự chuẩn bị từ trước.
Để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy cần chú ý một số vấn đề sau:
- Chủ thể tác động phải nắm chắc, hiểu rõ đối tượng bị tác động đang cố tình khai báo gian dối hay họ nhầm lẫn các tình tiết của vấn đề.
- Chủ thể tác động phải sử dụng đa dạng các câu hỏi để liên tục tác động vào quá trình tư duy của đối tượng.
- Chủ thể tác động cần phải dự kiến được những diễn biến ở người bị tác động khi thực hiện tác động. 
- Biểu cảm của chủ thể phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh tác động.
- Hệ thống câu hỏi phải dựa trên sự lôgíc và tất yếu, phải có khả năng bác bỏ những lý lẽ bất hợp lý mà người bị tác động nêu ra. 

6. Phương pháp ám thị gián tiếp

Trong cuộc sống, con người có thể tiếp nhận thông tin một cách có phê phán đúng sai, tốt xấu nhưng cũng có trường hợp con người tiếp nhận thông tin một cách thiếu kiểm soát, thiếu sự minh mẫn. Thông tin được truyền đến họ là họ tin ngay đó là sự thật. Cách tiếp nhận thông tin này gọi là ám thị. Thông thường, những người dễ bị ám thị đó là những người ít kinh nghiệm, thiếu thông tin về vấn đề, kiểu khí chất ưu tư, những người có tính cách yếu đuối, nhẹ dạ cả tin, sợ trách nhiệm hoặc những người đang ở trạng thái tâm lý mất bình tĩnh, lo lắng, căng thẳng…Chủ thể ám thị thường là những người có địa vị cao trong xã hội, những người có tri thức, trình độ được nhiều người biết đến, những người am hiểu chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó…Như vậy, quá trình ám thị không chỉ phụ thuộc vào đối tượng bị ám thị mà còn phụ thuộc cả vào người tiến hành ám thị. Ám thị có hai hình thức: ám thị trực tiếp và ám thị gián tiếp. Ám thị trực tiếp là hình thức ám thị được thực hiện khi thông tin ám thị được truyền thẳng đến đối tượng. Chẳng hạn như một đối tượng đã lừa đảo bằng cách, nhìn chằm chằm vào một người phụ nữ gặp trên đường, sau đó bảo rằng, da mặt của chị ta xấu quá, có biểu hiện của bệnh nặng và cần phải chữa ngay bằng một loại thuốc biệt dược quí hiếm. Quá hoảng hốt, chị phụ nữ tiếp nhận những thông tin này một cách thiếu sự đánh giá, phê phán và tưởng rằng mình bị bệnh thật. Khi nội dung ám thị được che giấu, nguỵ trang bằng các thông tin khác, thì gọi là ám thị gián tiếp. 
Trong hoạt động tư pháp, phương pháp ám thị gián tiếp là phương pháp chủ thể hoạt động tư pháp đưa ra những câu hỏi và thông tin về sự kiện nào đó không có quan hệ trực tiếp đến vụ án, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với cuộc sống của người tham gia tố tụng, phạm nhân để tác động đến họ, nhằm làm cho họ hiểu rằng những vấn đề đó chủ thể hoạt động tư pháp đã biết thì chắc chắn những vấn đề khác về vụ án chắc chắn các cơ quan tư pháp cũng đã biết hoặc sẽ biết, từ đó, người tham gia tố tụng, phạm nhân phải suy nghĩ, cân nhắc và thay đổi thái độ khai báo.
Những thông tin chủ thể hoạt động tư pháp có thể sử dụng để thực hiện ám thị gián tiếp là những thông tin về lịch sử cuộc đời, những thuận lợi, khó khăn, thành công, thất bại, những sự kiện, dấu ấn khó quên trong đời, các quan hệ gia đình, bạn bè, các bí mật đời tư… của người bị tác động. Mục đích việc tác động bằng phương pháp ám thị gián tiếp làm xuất hiện động cơ nhận thức mới ở người bị tác động, ám thị người bị tác động tin rằng cơ quan tư pháp đã biết hoặc có đủ khả năng để biết tất cả những gì mà mình che giấu hay bịa đặt. Chẳng hạn trong hoạt động hỏi cung bị can, điều tra viên dùng phương pháp ám thị gián tiếp để tác động bị can, đặt những câu hỏi hay đưa ra những thông tin liên quan đến cuộc sống riêng tư, đến những bí mật đời tư của bị can, làm cho bị can tin rằng cơ quan điều tra đã biết rất rõ về bị can, cả trong cuộc sống và chắc chắn cả trong hành vi phạm tội. từ đó dẫn bị can đến lựa chọn con đường có lợi là khai báo sự thật để hưởng lượng khoan hồng. 
Phương pháp ám thị gián tiếp khác với phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy ở chỗ những thông tin mà chủ thể tác động đưa ra không có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đó chỉ là những bí mật đời tư của người bị tác động hay những sự kiện, sự việc xảy ra đã lâu mà họ cho rằng mọi người đã quên.
Để phương pháp ám thị đạt hiệu quả, chủ thể hoạt động tư pháp cần bịt kín mọi nguồn tin với người bị tác động, đặc biệt là nguồn tin về kết quả điều tra, thu thập thông tin về người bị tác động. Chủ thể hoạt động tư pháp cần có quá trình nghiên cứu tỷ mỷ về quá trình hoạt động trước đó của người bị tác động (nắm thông tin về đời tư, những điểm yếu, những mối quan hệ vốn có...). Những thông tin về người bị tác động mà chủ thể tác động đưa ra phải chính xác là có thực, đúng thực tế cuộc đời của người bị tác động. Thái độ của chủ thể hoạt động tư pháp phải nhẹ nhàng nhưng cương quyết, tỏ ra hiểu biết tường tận về đời tư, các quan hệ, sinh hoạt của người bị tác động.
Trên đây là một số phương pháp tác động tâm lý thường được sử dụng trong hoạt động tư pháp. Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và mục đích của người sử dụng mà các phương pháp này được sử dụng một cách riêng rẽ hoặc kết hợp. Tuy nhiên, sự kết hợp nhiều phương pháp với nhau thường cho kết quả tốt hơn đáng tin cậy hơn.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê