1. Vốn của công ty cổ phần

Công ty cổ phần có công cụ góp vốn là cổ phiếu. Khi huy động vốn, sáng lập viên mời mọi người mua cổ phiếu . Do đó trên cơ sở mệnh giá cổ phần người ta xác định vốn điều lệ của công ty cổ phần. Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giây chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Các quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần là gì?
Việc đăng ký mua hay chấp nhận mua cổ phần chưa hình thành vốn của công ty. Vốn chỉ thực sự được hình thành khi các cổ đông thanh toán tiền mua cổ phần, tức là góp vốn hay hùn vốn. Vốn góp có thể bằng các hình thức được chấp nhận như đã nói tại Mục 4.3 của Giáo trình này. Tuy nhiên góp vốn bằng tiền là hình thức góp vốn thông dụng nhất và chủ yêu nhất. Thanh toán tiền mua cổ phần được pháp luật quy định khá chặt chẽ về thời hạn. Luật Doanh nghiệp 2020 quy định trong thời hạn 90 ngày kê’ từ ngày công ty được câp giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh, những người cam kết mua cổ phần phổ thông phải thanh toán đủ số tiền mua cổ phần. Tại điểu khoản này, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định ngụ ý về điều kiện "tiên mãi" , có nghĩa là công ty dành quyền mua lại cổ phần của cổ đông muôn bán trong hoàn cảnh bị hạn chế bán để nhượng lại cho cổ đông khác muôh mua.
Vốn tạo lập nên doanh nghiệp. Và doanh nghiệp được khoa học pháp lý quan niệm là một khối tài sản hay một tập họp tài sản thuộc quyền sở hữu của thương nhân dùng vào việc tiến hành một hoặc một số hành vi thương mại nhất định. Trong môì quan hệ với chủ nợ, tài sản hiện có hoặc sẽ có trong tương lai của con nợ đều là vật bảo đảm chung cho tâ't cả các chủ nợ. Do đó chủ nợ quan tâm tới vốn, tài sản của công ty. Mặt khác, người hùn vốn vào công ty muôn có được sự dễ dãi trong việc chia lãi, rút vốn... Từ các lợi ích trái ngược nhau này, pháp luật cố gắng tìm các giải pháp cân đối giữa các lợi ích, tuy nhiên khó có thể có giải pháp làm ưng ý tất cả. Thông thường nhà làm luật phải lựa chọn theo những ưu tiên nhất định. Lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của các chủ nợ thường chiếm ưu thế. Chẳng hạn như: Cổ đông không được trả tiền tháp hơn mệnh giá cổ phần; phải góp vốn như đã cam kết trong một thời hạn nhất định; không được rút vốn; vẫn phải bảo đảm chi trả các khoản nợ đến hạn khi quyết định chia cổ tức; ưu tiên trả nợ cho các chủ nợ khi châm dứt công ty...
Pháp luật có thể quy định về vốn pháp định của công ty. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập công ty khi công ty kinh doanh trong một số ngành nghề nhất định. Thông thường mức vốn này được đòi hỏi bởi luật chuyên ngành có liên quan.
Việc tăng giảm vốn điều lệ của công ty phải theo quy định của pháp luật. Việc tăng vốn có thể bằng cách phát hành cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, chuyển nợ thành vốn... Công ty có thể giảm vốn bằng cách giảm mệnh giá cổ phiếu, nhưng vẫn phải giữ nguyên số cổ phần. Việc đổi cổ phiếu cũ lây cổ phiếu mới với mệnh giá mới đã bị giảm được diễn ra đồng thời với việc công ty phải chi trả lại cho cổ đông phần chênh lệch giá, trừ trường hợp làm ăn thua lỗ.
Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu. Việc phát hành các loại trái phiếu được dự liệu bởi pháp luật và điều lệ công ty. Trái phiếu công ty là một loại chứng khoán nợ do công ty phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc lẫn lãi của mình đối với người mua trái phiếu . Việc phát hành trái phiếu phải tuân thủ các điều kiện do pháp luật đặt ra.

2. Cổ đông

2.1 Khái niệm

Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
3. Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần.
Công ty cổ phần có thể có nhiều cổ đông và có thể có một cổ đông. Pháp luật Việt Nam hiện nay không có quan niệm về công ty CỔ phần một cổ đông. Tuy nhiên trong thực tiễn, vẫn có công ty cổ phần một cổ đông ở Việt Nam hiện nay. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận và điều tiết công ty cổ phần một thành viên.

2.2 Đặc điểm

Mỗi công ty cổ phần đều có sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của pháp luật. Sổ đăng ký cổ đông phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty hoặc trung tâm đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán dưới dạng văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này. Cổ đông có quyêh kiểm tra, tra cứu hoặc trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông. Đạo luật này quy định sổ đăng ký cổ đông phải ghi chép các nội dung chủ yếu sau:
- Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
- Tổng số cổ phần được quyền chào bán, loại cổ phần được quyền chào bán và số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;
- Tổng số cổ phần đã bán của từng loại và giá trị vốn cổ phần đã góp;
- Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giâỳ chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân họp pháp khác đối vói cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối vói cổ đông là tô’ chức;
- Số lượng Cổ phần từng loại của mỗi cổ đông, ngày đăng ký cổ phẩn
Cổ đông được phân loại đề mỗi loại có một quy chế pháp lý riêng. Căn cứ vào việc tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ công ty, Luật Doanh nghiệp 2020 chia các cổ đông thành các cổ đông sáng lập và các cổ đông khác. Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần. Còn lại là các cổ đông khác. Đạo luật này còn đưa ra một ngoại lệ rằng cổ đông không tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đẩu tiên của công ty cũng được xem là cổ đông sáng lập khi được chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập. Căn cứ vào việc nắm giữ các loại cổ phần khác nhau, Luật Doanh nghiệp 2020 phân loại cổ đông thành: cổ đông phổ thông; cổ đông ưu đãi biểu quyết; cổ đông ưu đãi cổ tức; cổ đông ưu đãi hoàn lại; cổ đông có ưu đãi khác theo điều lệ của công ty. Mỗi loại cổ đông này nắm giữ một loại cổ phần tương ứng. Các cổ đông ưu đãi có các đặc quyền khác nhau nhưng vẫn có chung nhiều quyền trên căn bản các quyền của cổ đông phổ thông. Mặc dù không được làm rõ trong Luật Doanh nghiệp 2020, nhưng có thể hiểu các cổ đông phổ thông và các cổ đông ưu đãi có các nghĩa vụ giông nhau trừ một số ngoại lệ do các đặc quyền của cổ đông ưu đãi mang lại. Riêng đối với cổ đông sáng lập bị ràng buộc vào các nghĩa vụ ngặt nghèo hơn trong một số vấn đề.

2.2.1 Cổ đông phổ thông

Cổ đông phổ thông có ba quyền lợi cơ bản và chủ yếu có tính cách quản trị và kinh tế. Thứ nhất, cổ đông phổ thông có quyêh tham dự và biểu quyết. Đây là quyền cơ bản mà không thể bị tước bỏ. Thông qua quyền này, cổ đông chi phối vấn đề quản trị và vận hành công ty. Thứ hai, cổ đông phổ thông có quyền được chia lợi nhuận. Vì là chủ sở hữu của công ty, nên lợi nhuận của công ty sau khi đã khâù trừ và thực hiện các nghĩa vụ theo quy định đều thuộc về các cổ đông. Do đó họ phải được chia. Tuy nhiên việc chia phần này phải dựa trên các căn cứ pháp lý nhất định. Thứ ba, cổ đông phổ thông được quyền mua cổ phần mới. Khi công ty phát hành cổ phần mới, cổ đông phổ thông được ưu tiên mua. Quyền này cũng xuất phát từ nền tảng pháp lý quan trọng là cổ phần phổ thông là thể hiện quyền sở hữu công ty. Ngoài các quyền lợi cơ bản này, cổ đông còn có các quyền lợi khác. Luật Doanh nghiệp 2020 liệt kê các quyền của cổ đông phổ thông như sau:
Điều 115. Quyền của cổ đông phổ thông
1. Cổ đông phổ thông có quyền sau đây:
a) Tham dự, phát biểu trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty, pháp luật quy định. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;
b) Nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
c) Ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty;
d) Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120, khoản 1 Điều 127 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Xem xét, tra cứu và trích lục thông tin về tên và địa chỉ liên lạc trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết; yêu cầu sửa đổi thông tin không chính xác của mình;
e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và nghị quyết Đại hội đồng cổ đông;
g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty.
2. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền sau đây:
a) Xem xét, tra cứu, trích lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty;
b) Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;
c) Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. Yêu cầu phải bằng văn bản và phải bao gồm các nội dung sau đây: họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm tra, mục đích kiểm tra;
d) Quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp sau đây:
a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;
b) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
4. Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông quy định tại khoản 3 Điều này phải bằng văn bản và phải bao gồm các nội dung sau đây: họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Kèm theo yêu cầu triệu tập họp phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền.
5. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát thực hiện như sau:
a) Các cổ đông phổ thông hợp thành nhóm để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết trước khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;
b) Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản này được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử.
6. Quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Như đã nói tại Mục 7.2 Trong vụ Borland's Trustee V. Steel Bros. & Co. Ltd (1901) tại Anh Quốc, người ta giải nghĩa về các đặc tính căn bản của cổ phần trong đó xem "trách nhiệm là trước hết". Do đó khi nói tói quyển lợi của cổ đông phổ thông không thể đề cập tói nghĩa vụ của họ mà có cả sự liên quan tới trách nhiệm đối với người thứ ba.
Việc chấp hành các quyết định của đại hội đồng cổ đông theo các nghĩa vụ liệt kê ở đây có hội hướng của việc ngụ ý về họp đổng cộng đồng bởi có thể có một cổ đông nào đó không ủng hộ nghị quyết của đại hội đổng cổ đông, nhưng nó vẫn có hiệu lực do đạt được tỷ lệ ủng hộ nhất định theo quy định của pháp luật hoặc eủa điều lệ công ty.

2.2.2 Cổ đông ưu đãi biểu quyết

Số phiếu biểu quyết của cổ đông ưu đãi biểu quyết lớn hơn so với số phiếu biểu quyết của các cổ đông khác loại. Như vậy có thể xem nguyên tắc bình đẳng của luật công ty bị vi phạm về một phương diện nào đó. Vì thể pháp luật của một số nước cấm việc phát hành loại cổ phần ưu đãi biểu quyết. Pháp luật thương mại của miền Trung Việt Nam dưới thời Pháp thuộc cấm phát hành cổ phần đa phiếu và bãi bỏ những cổ phần đã phát hành rổi, bắt buộc công ty hoàn lại những cổ phần ấy hoặc đổi sang cổ phần khác, tuy nhiên cho phép phát hành cổ phần lưỡng phiếu nhưng phải là cổ phần ký danh đã góp đủ tiền và cổ đông nắm giữ cổ phần đó đã phải là chủ sở hữu cổ phần trong thời hạn ít nhất là hai năm . Điều kiện nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết được quy định ngặt nghèo hơn so với điều kiện nắm giữ các loại cổ phần khác. Luật Doanh nghiệp 2020 quy định chi có tổ chức do Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được nắm giữ loại cổ phần này. Tuy nhiên việc nắm giữ loại cổ phần này của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giâỷ chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập phải chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Các quy định này có lẽ nhằm mục đích duy trì sự tổn tại của các công ty cổ phần có vốn của Nhà nước và các công ty cổ phần nói chung trong hoàn cảnh khuyến khích thành lập doanh nghiệp đề phát triển kinh tế thị trường và khi mà tri thức và văn hóa kinh doanh còn non yếu? Luật Doanh nghiệp 2020 không hạn chế số phiếu biểu quyết của cổ đông ưu đãi biểu quyết bằng cách đề điều lệ công ty tự xác định số phiếu biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết. Điều luật này chỉ xác định các quyền của cổ đông ưu đãi biểu quyết bao gồm: (1) Quyền biểu quyết về các vâh đề thuộc thẩm quyển của Đại hội đổng cổ đông với số phiếu biểu quyết đã được xác định trong điều lệ công ty; và (2) Các quyền khác như cổ đông phổ thông. Tuy nhiên đây là một đặc ưu. Do đó Điều luật này câm việc cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác.

2.2.3 Cố đông ưu đãi cổ tức

Cổ đông ưu đãi cổ tức có hai đặc quyền là: Thứ nhất, được nhận cổ tức với mức cổ định và mức thưởng được ghi trên cổ phiếu; và thứ hai, được nhận lại một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty, sau khi công ty đã thanh toán hê't các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc bị phá sản. Đặc quyển thứ hai này không được điều luật này làm rõ về thứ tự ưu tiên thanh toán từ tài sản còn lại của công ty sau khi công ty chấm dứt bởi giải thể hoặc phá sản, có nghĩa là điều luật tỏ ra mập mờ vê' thứ tự ưu tiên thanh toán giữa cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi cổ tức. Tuy nhiên nếu xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng của luật công ty và logic của việc xác định các quyền và các hạn chế của cổ đông phổ thông, của cổ đông ưu đãi cổ tức và của cổ đông ưu đãi hoàn lại thì có thể hiểu cổ đông ưu đãi cổ tức có thứ tự ưu tiên thanh toán cao hơn cổ đông phổ thông khi công ty châm dứt. Suy luận trên có lẽ là hợp lý bởi cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi cổ tức không có quyền tham dự vào quản trị và vận hành công tyViệc châm dứt công ty nằm ngoài ý chí và không có sự thiếu sót của họ. Ngoài ra, các đặc quyền nêu trên họ còn có các quyền khác như cổ đông phổ thông

2.2.4 Cổ đông ưu đãi hoàn lại

Cổ đông ưu đãi hoàn lại có đặc quyền được công ty hoàn lại vốn góp bâ't cứ khi nào theo yêu cầu của họ hoặc theo các điều kiện khác được ghi trong cổ phiếu ưu đãi hoàn lại. Ngoài đặc quyền này cổ đông ưu đãi hoàn lại còn có các quyền như các quyền của cổ đông phổ thông. Vì có đặc quyền gần với địa vị của một người cho vay nên cổ đông ưu đãi hoàn lại không được tham dự vào việc quản trị và vận hành công ty. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đổng cổ đông, đề cử người vào Hội đổng quản trị và Ban kiểm soát"

2.2.5 Cồ đông sáng lập

Cổ đông sáng lập là một khái niệm gắn vói việc thành lập mới công ty cổ phần bởi họ là những người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần., đối vói công ty cổ phần có được do cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoặc do chuyển đổi hình thức công ty từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc do chia, tách từ một công ty cổ phần hoặc do họp nhất, sáp nhập từ hai hoặc nhiều công ty cổ phần khác nhau không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập (Điều 23, khoản 2). Do đó các quy định liên quan đến cổ đông sáng lập có thể nhằm mục đích bảo đảm sự thành lập, hoạt động và duy trì sự tồn tại của công ty cổ phần khi mới thành lập, và bảo vệ cho lợi ích của người thứ ba.
Nếu không thanh toán hoàn toàn số cổ phần đăng ký mua trong thời hạn nêu trên, thì cổ đông không thanh toán đó đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không có quyển chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác. Nếu chỉ thanh toán một phần, thì cổ đông đó chỉ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyển khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán, và không có quyêh chuyển nhượng quyêh mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác. Việc cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua làm phát sinh ra quyển của các cổ đông sáng lập khác. Các cổ đông sáng lập còn lại của công ty có thể góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty. Có thể một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó. Trong trường hợp huy động người khác mà không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó, thì người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Đặc biệt điều luật này ấn định chê' độ trách nhiệm đặc biệt cho tâ't cả các thành viên sáng lập như sau: "Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa được góp đủ thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phẩn chưa góp đủ đó
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê