1.Tổ chức việc đại diện
Ðại diện đương nhiên. Trừ những trường hợp được luật dự kiến, con chưa thành niên đưong nhiên được cha, mẹ đại diện trong các quan hệ với người thứ ba, nhất là trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch mà con chưa thành niên không có quyền tự mình xác lập và thực hiện (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 39).
Cơ chế đại diện. Việc đại diện theo pháp luật của cha, mẹ đối với con chưa thành niên được chi phối chủ yếu bởi các quy định trong BLDS (Ðiều 20, 21 và Chương VII - Ðại diện) và trong Luật hôn nhân và gia đình năm năm 2000 (đặc biệt là các Ðiều 45 và 46). Nói chung, sự đại diện của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng giống như sự đại diện của người giám hộ đối với người được giám hộ: việc đại diện mang tính chất toàn phần hay từng phần tuỳ theo con đã đủ hay chưa đủ 6 tuổi. Mặt khác, nếu con có đủ cha và mẹ nhưng một trong hai người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ, thì người còn lại là người có đầy đủ quyền đại diện cho con chưa thành niên.
Dẫu sao, nếu cha và mẹ cùng đại diện cho con, thì mọi giao dịch xác lập dưới danh nghĩa và vì lợi ích của con đều phải được sự đồng ý của cả cha và mẹ. Luật chưa dự liệu vai trò của Toà án trong trường hợp cha và mẹ không thống nhất ý kiến. Có vẻ như nếu cha, mẹ không thống nhất ý kiến, thì hoặc cha hoặc mẹ đại diện cho con trong các giao dịch thông thường; còn các giao dịch quan trọng sẽ rơi vào chỗ bế tắc. Mặt khác, luật không ghi nhận vai trò giám sát của UBND địa phương đối với việc thực hiện quyền của cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên, như trong trường hợp giám hộ người chưa thành niên.
Con chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên chỉ có thể lập di chúc với sự đồng ý của cha, mẹ (BLDS Ðiều 647 khoản 2). Nhưng, con chưa thành niên đủ 15 tuổi có quyền tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 45 khoản 1). Nói chung, khi con chưa thành niên đủ 15 tuổi, thì vai trò đại diện của cha mẹ, cũng như vai trò của người giám hộ, mất dần tính chất bảo hộ và mang nhiều hơn tính chất hỗ trợ, hướng dẫn.
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện. Các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ trong việc đại diện theo luật cho con chưa thành niên được quy định trong các văn bản luật chủ yếu là các quyền và nghĩa vụ về tài sản. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 46 khoản 1, trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con, thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên.
Có thể tin rằng cũng như người giám hộ không có quyền tặng cho tài sản của người được giám hộ, cha, mẹ không có quyền tặng cho tài sản của con chưa thành niên. Thế nhưng, cha, mẹ có quyền bán, cầm cố tài sản của con mà không cần xin phép UBND địa phương nơi cư trú như người giám hộ bán, cầm cố tài sản của người được giám hộ. Có thể mở rộng giải pháp này cho tất cả các trường hợp định đoạt có đền bù (có hoặc không có điều kiện) đối với tài sản của con chưa thành niên, như trao đổi, thế chấp bất động sản,... cũng như các trường hợp các giao dịch quan trọng có tính chất quản trị tài sản, như cho thuê, cho vay,... tài sản. Trong trường hợp con chưa thành niên đủ 15 tuổi tự mình quản lý tài sản, thì có quyền tự mình định đoạt tài sản, dù vai trò đại diện của cha mẹ chưa chấm dứt (Luật hôn nhân và gia đình Điều 46 khoản 2); tuy nhiên, việc định đoạt các tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh phải có sự đồng ý của cha mẹ (cùng điều luật).
2.Nguyên tắc thực hiện quyền đại diện
Thực hiện chung và trực tiếp. Dù không có quy định rõ ràng của luật viết, vẫn có thể khẳng định rằng trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam cha mẹ có quyền ngang nhau trong việc đại diện cho con chưa thành niên và phải cùng nhau thực hiện quyền này. Ngang quyền, cha mẹ, trên nguyên tắc, phải thống nhất ý chí trong hoạt động đại diện. Trong trường hợp ngược lại, thì, về mặt lý thuyết, việc đại diện sẽ sa vào chỗ bế tắc. Còn trên thực tế, người nào nắm quyền lực mạnh hơn sẽ có tiếng nói áp đảo. Thông thường, đó là người cha.
3.Các trường hợp đặc biệt trong thực hiện quyền đại diện
Trường hợp cha hoặc mẹ bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 43 khoản 1, trong trường hợp một trong hai người là cha mẹ bị Toà án hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con. Không có văn bản nào chi phối việc thực hiện quyền cha mẹ trong trường hợp này; bởi vậy, có thể thừa nhận rằng người còn lại có toàn quyền của cha mẹ.
Trường hợp cha hoặc mẹ chết. Khi giải quyết vấn đề đại diện cho con chưa thành niên, luật không dự kiến tình huống cha hoặc mẹ chết. Tuy nhiên, như đã biết, việc đại diện cho con chưa thành niên chỉ được thực hiện theo một trong hai chế độ: đại diện theo pháp luật của cha mẹ hoặc giám hộ. Thế mà, luật chủ động dự kiến các trường hợp cần đặt người chưa thành niên dưới chế độ giám hộ; trong các trường hợp ấy không có tình huống cha hoặc mẹ của người chưa thành niên chết. Dùng phương pháp loại suy, ta xác định rằng khi cha hoặc mẹ chết, thì quyền đại diện cho con thuộc về người còn lại.
Trường hợp cha mẹ ly hôn. Trong trường hợp cha và mẹ ly hôn, thì con chưa thành niên sẽ được giao cho một trong hai người trông nom, nuôi dưỡng. Luật hôn nhân và gia đình, khi giải quyết vấn đề giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, không đề cập đến việc đại diện cho con. Tuy nhiên, có thể tin rằng người đại diện rtoàn quyền của con phải là người trực tiếp nuôi con; người còn lại chỉ có quyền giám sát.
4.Đại diện là gì?
Theo Điều 134 Bộ luật dân sự 2015, Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật).
Quy định về đại diện cho con
Theo Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình 2014, người đại diện của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự được quy định cụ thể như sau:
– Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.
– Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
– Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ.
– Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật dân sự.
Bồi thường thiệt hại do con gây ra
Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự 2015, cha mẹ phải bồi thường thiệt hại cho con như sau:
– Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý.
– Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
5. Chấm dứt việc đại diện
Việc đại diện theo luật của cha, mẹ đối với con chưa thành niên chấm dứt khi con thành niên hoặc chết. Nếu con không có năng lực hành vi dân sự, dù đã thành niên, thì việc đại diện theo luật cũng chấm dứt và được thay thế bằng chế độ giám hộ đương nhiên của cha, mẹ (BLDS Ðiều 62 khoản 3). Luật không quy định việc thanh toán tài sản giữa cha mẹ và con chưa thành niên sau khi việc đại diện chấm dứt. Hẳn, mọi chuyện được giải quyết theo tục lệ.
Bảo vệ người không có năng lực hành vi trong đời sống dân sự. Người không có năng lực hành vi vẫn có khả năng hưởng các quyền và nghĩa vụ dân sự; tuy nhiên, trên nguyên tắc, luật không cho phép người này tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó, bởi trong hầu hết các trường hợp, người này không đủ khả năng nhận định, đánh giá ý nghĩa, tầm quan trọng của các quyền và nghĩa vụ mà mình là chủ thể. Luật nói rằng người không có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất thiết phải được đại diện trong quá trình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó. Chế độ đại diện cho người không có năng lực hành vi mang ý nghĩa bảo vệ người được đại diện trong đời sống dân sự, nhằm ngăn ngừa và chống các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người này . Chế độ đại diện cho người không có năng lực hành vi không giống nhau, tuỳ theo người được đại diện là người chưa thành niên hoặc đã thành niên.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)