1. Lịch sử hình thành và phát triển chế định quốc tịch.

Chiếm hữu nô lệ Chỉ có 2 giai cấp: chủ nô và nô lệ; Nô lệ là “công cụ lao động biết nói” và Không có sự bình đẳng giữa hai giai cấpkhái niệm công dân và chế định quốc tịch chưa được ghi nhận từ đó pháp luật ra đời nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của giai cấp chủ nô. 
Đến thời phong kiến có 2 giai cấp: giai cấp thống trị (vua, quan, quý tộc, địa chủ…) và giai cấp bị trị (nông dân). Lúc này Địa vị pháp lí của nông dân được cải thiện nhưng không được coi là công dân, không được tham gia và bộ máy nhà nước Pháp luật thời kì này đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị.
Chế định Quốc tịch đã được Giai cấp tư sản đưa ra trong thời kì tư bản chủ nghĩa lôi kéo nhân dân lật đổ chính quyền phong kiến. Chế định quốc tịch là bước phát triển quan trọng trong lịch sử loài người. Sự bình đẳng chỉ mang tính chất hình thức. Giai cấp tư sản hưởng thụ mọi lợi ích do chế định này mang lại
Thời kì xã hội chủ nghĩa chế định quốc tịch đã có sự thay đổi lớn về nội dung: Thừa nhận sự bình đẳng giữa các cá nhân trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa... Bảo đảm thực hiện nguyên tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Chế định quốc tịch thời kì này đã đảm bảo sự bình đẳng của người dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội.
 

2. Quốc tịch cá nhân trong luật quốc tế

Quốc tịch là vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia

Nói đơn giản là một người có quốc tịch của một quốc gia sẽ chỉ được các quốc gia khác công nhận quốc tịch đó nếu giữa người đó với quốc gia mà người đó mang quốc tịch có một mối liên hệ đặc thù

Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý  - chính trị bền vững, thường xuyên giữa một cá nhân với một quốc gia nhất định và biểu hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện

- Quốc tịch có tính ổn định, thường xuyên và bền vững về thời gian và không gian

+ Khi mang quốc tịch, công dân phải chịu sự chi phối của quốc gia đó, không kể họ đang cư trú ở đâu

+ Mối quan hệ này chỉ chấm dứt trong những trường hợp đặc biệt: xin thôi quốc tịch, bị mất quốc tịch…

- Quốc tịch là trạng thái pháp lý và chính trị xác định mối liên hệ pháp lý giữa công dân và Nhà nước:

+ Thể hiện ở quyền và nghĩa vụ

+Mang tính chất giai cấp rõ rệt và sâu sắc: việc quy định họ có những quyền và nghãi vụ gì phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị

- Quốc tịch thể hiện mối quan hệ pháp lý hai chiều giữa nhà nước và công dân: thể hiện quyền và nghĩa vụ của 2 bên: nhà nước và công dân

- Quốc tịch gắn bó với mỗi cá nhân cụ thể và không thể chia sẻ cho người khác: việc thay đổi quốc tịch của một người không làm người khác thay đổi theo

- Quốc tịch vừa mang tính quốc tế, vừa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia

+ Trong quan hệ đối ngoại, quốc tịch là cơ sở để quóc gia tiến hành bảo hộ ngoại giao cho công dân mình

+ Là cơ sở để quốc gia từ chối dẫn độ tội phạm đối với công dân mình

 

3. Các trường hợp được hưởng quốc tịch

3.1. Hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ

Đây là cách thức hưởng quốc tịch phổ biến nhất. Công dân mang quốc tịch của một quốc gia được xác định một cách mặc nhiên từ khi công dân đó mới được sinh ra => việc công dân mang quốc tịch không phự thuộc vào ý chí của công dân mà phụ thuộc vào ý chí của nhà nước và pháp luật, tập quán quốc tế. Các quốc gia sử dụng các nguyên tắc hưởng quốc tịch do sinh ra không giống nhau, dẫn đến các kết quả pháp lý khác nhau.
Một số quốc gia như Áo. Nauy. Afghanistan... sử dụng nguyên lắc quyền huyết thống (Jus Sanguinis) để xác định quốc tịch cho cá nhân được sinh ra. Theo nguyên tắc này, trẻ em khi sinh ra có quốc tịch theo cha mẹ, không phụ thuộc vào nơi sinh.
Các nước ở Mỹ La tỉnh lại áp dụng nguyên tắc quyền nơi sinh (Jus Soli) để xác định quốc tịch cho trẻ em, với nội dung: Trẻ em sinh ra ở nước nào sẽ có quốc tịch nước đó, không phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ.
Nguyên tác Jus Sanguinis và Jus Suli có phương thức xác định quốc tịch hoàn toàn khác nhau, vì vậy trong thực tiến sinh hoạt quốc tế đã dẫn đến hiện tượng trẻ em không có quốc tịch hoặc có hai quốc tịch trở lên. Để giải quyết thực tế này, các nước đã ký kết các điều ước quốc tế song phương hoạt đã phương nhằm mục đích hợp tác để hạn chế và loại bỏ tình trạng người không quốc tịch hay hai quốc tịch

Có 2 nguyên tắc để xác định quốc tịch theo sự sinh đẻ

+ Nguyên tắc huyết thống: mọi đứa trẻ sinh ra đều có quốc tịch của cha mẹ, không phụ thuộc vào nơi đứa trẻ được sinh ra

+ Nguyên tắc quyền nơi sinh: mọi đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ nước nào thì mang quốc tịch nước đó, không phụ thuộc vào quốc tịch cha mẹ chúng.

 

3.2. Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập quốc tịch

Là việc một người nhận quốc tịch của một quốc gia khác do việc xin gia nhập quốc tịch

Có 3 trường hợp hưởng quốc tịch theo sự gia nhập

+ Xin vào quốc tịch: xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của cá nhân người muốn xin vào quốc tịch

+ Do người nước ngoài nhận làm con nuôi

+Do kết hôn với người nước ngoài

Việc hưởng quốc tịch trong trường hợp xin vào quốc tịch dựa trên cơ sở ý chí, nguyện vọng cá nhân của người muốn xin vào quốc tịch. Yếu tố ý chỉ ở đây có tính chất quyết định. Vì vậy, pháp luật của các quốc gia đều đòi hỏi phải có đơn xin gia nhập quốc tịch của người có nhu cầu. Trình tự, thủ tục và các điều kiện xin nhập quốc tịch được quy định trong pháp luật có liên quan của quốc gia xin gia nhập quốc tịch. Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định các điều kiện cơ bản sau đây:
- Phải đạt độ tuổi nhất định, thường từ 18 tuổi trở lên;
- Phải có thời gian sinh sống nhất định tại nước xin nhập quốc tịch;
- Phải biết ngôn ngữ của quốc gia xin gia nhập:
- Phải có điều kiện sống dâm bảo theo quy định của quốc gia xin gia nhập quốc tịch;
- Phải có dao dức và tư cách tối.
Đây là những điều kiện chung cả tính chất cơ bản. Ngoài ra, phụ thuộc vào bản chất thể đồ, phong tục tập quán, điều kiến và trình độ phát triển của từng nước mà trong quy định từng nước có thể có các điều kiến bổ sung thêm.
 

3.3. Hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn quốc tịch

Lựa chọn quốc tịch là quyền của người dân được tự do lựa chọn cho mình một quốc tịch hoặc giữa nguyên quốc tịch cũ hoặc nhận quốc tịch của quốc gia hữu quan khác

Việc lựa chọn quốc tịch phải được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyên, phù hợp với nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, bảo đảm tuyệt đối quyền lợi và tài sản của người lựa chọn quốc tịch.
Sau Chiến tranh thế giới thứ lần thứ II, vấn đề lựa chọn quốc tịch xuất hiện nhiều, do yếu tố lịch sử để lại, các vấn đề này đã được điều chỉnh trong các điều ước quốc tế hữu quan như Hiệp ước Polglam, Hiệp định 1945 giữa Liên Xô (cũ) với Ba Lan, Hiệp định 1946 giữa Tiệp Khắc (cũ) với Liên Xô (cũ).

Điều kiện: 

+ Khi có sự dịch chuyển về lãnh thổ

+ Khi xuất hiện các điều ước quốc tế có nội dung về việc lựa chọn quốc tịch.

 

3.4. Hưởng quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch

Là việc khôi phục lại quốc tịch cho người bj mất quốc tịch do nhiều nguyên nhân khác nhau. Phục hồi quốc tịch là hoạt động pháp lý có ý nghĩa nhằm mục đích khỏi phục lại quốc tịch cho người đã mất quốc tịch đó vì các nguyên nhân khác nhau trong đời sống dân sự quốc tế. Vấn để phục hồi quốc tịch được đặt đối với những người ra nước ngoài sinh sống nay hồi hương về tổ quốc và đối với những người đã mất quốc tịch nước mình do kết hôn với người nước ngoài nay ly hôn và muốn trở lại quốc tịch cũ.

Trình tự, thủ tục và điều kiện hưởng quốc tịch theo sự phục hải quốc tịch được quy định có nội dung đơn giản hơn và ưu tiền hơn so với người gia nhập quốc tịch lần đầu..
Ngoài những cách thức hưởng quốc tịch phổ biến nêu trên, trang thực tiễn sinh hoạt quốc tế còn có hưởng quốc tịch theo phương thức được thưởng quốc tịch Thưởng quốc tịch là hành vị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia công nhân người nước ngoài có công lao to lớn với nước mình, với cộng đồng nhân loại là công dân nước mình. Việc thưởng quốc tịch phải được sự đồng ý của người được thưởng quốc tịch. Trong thực tế, việc thưởng quốc tịch dẫn đến hai hệ quả pháp lý sau
Người được thưởng quốc tịch trở thành công dân thực sự của nhà nước thưởng quốc tịch với dây dủ quyền và nghĩa vụ như công dân của nhà nước này.
- Người được thưởng quốc tịch là công dân danh dự của nhà nước thưởng quốc tịch, việc thường quốc tịch chỉ có giá trị và ý nghĩa tinh thần là chủ yếu

Các trường hợp được hưởng:

+ Người trước đây ra nước ngoài sinh sống và bị mất quốc tịch

+ Người bị mất quốc tịch do nhiều nguyên nhân khác nhau: kết hôn, ly hôn, làm con nuôi cho người nước ngoài

+ Được hưởng quốc tịch theo phương thức được thưởng quốc tịch, cần có sự đồng ý của người được thưởng quốc tịch. Họ có thể trở thành công dân thực thụ của quốc gia hoặc công dân danh dự của Nhà nước thưởng quốc tịch (việc thưởng này chỉ có ý nghĩa về mặt tinh thần).

 

4. Điều kiện để được hưởng Quốc tịch Việt Nam 

Do sinh ra theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam

+ trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam

+ trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam (theo điều 16)

+ trẻ em khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có cha mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam

Được nhập quốc tịch Việt Nam

+ Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện: đã thường trú ở VN từ 5 năm trở lên, biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam…

+ Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam

+ Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

+ Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài

Được trở lại quốc tịch Việt Nam

+ Người đã mất quốc tịch Việt Nam

+ Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây

+ Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài

Theo quy định tại các điều 18, 35 và 37 của Luật quốc tịch VN

+ Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam

+ Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.

+ Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ

+ Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam

+ Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi.

Theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Luật Minh Khuê - Biên tập & Sưu tầm