1.Đăng kí nhượng quyền và báo cáo
Mặc dù cơ chế đăng kí nhượng quyền được áp dụng ở Hoa Kỳ từ rất sớm theo quy định của pháp luật bang Ca-li-phoóc-ni-a và được tiếp tục áp dụng ở 13 bang khác, nhưng đã không nhận được nhiều sự ủng hộ của các nước khác. Chỉ có 14 bang của Hoa Kỳ và 14 nước khác áp đặt nghĩa vụ đăng kí nhượng quyền, và nghĩa vụ này cũng rất đa dạng, từ việc yêu cầu nộp một báo cáo kiểm toán đầy đủ cho tới đơn giản chỉ là việc lưu trữ thông tin. 14 bang của Hoa Kỳ giới thiệu cơ chế kiểm toán và đăng kí nhượng quyền nặng nề nhất, cho dù có sự khác biệt nhất định về mức độ kiểm soát giữa các bang cũng như đối với từng nhà nhượng quyền thương mại. Các bang của Hoa Kỳ và 5 nước khác có áp dụng cơ chế đăng kí nhượng quyền (Trung Quốc, Inđô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Tây Ban Nha và Việt Nam) cũng yêu cầu nghĩa vụ thông báo thường niên đối với các nhà nhượng quyền thương mại.
2. Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại
Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại là nhân tố then chốt trong pháp luật về nhượng quyền. Nó được chấp nhận rộng rãi như công cụ để xử lí sự bất cân xứng thông tin cố hữu trong các quan hệ nhượng quyền. Công cụ này góp phần làm thuận lợi hoá việc tiếp cận các thông tin tin cậy và đầy đủ về hệ thống nhượng quyền, điều này hết sức hữu ích và cần thiết cho các bên dự kiến nhận quyền trong việc đưa ra quyết định nhận quyền thương mại một cách sáng suốt. Mặc dù các nhà nhượng quyền nói chung không ưa thích các vấn đề khác thuộc pháp luật riêng về nhượng quyền, ‘nhưng có một sự đồng thuận rằng bản giới thiệu nhượng quyền đầy đủ dành cho các bên dự kiến nhận quyền giúp cải thiện quá trình tuyển dụng bên nhận quyền, và nhìn chung là tốt cho hoạt động nhượng quyền’. Theo một trong những báo cáo đầu tiên của Úc, bản giới thiệu nhượng quyền thương mại không bị coi là sự hạn chế kinh doanh, mà là ‘lẽ đương nhiên và nền tảng vững chắc cho việc kinh doanh, trong một mối quan hệ khăng khít đặc biệt như nhượng quyền thương mại, và nó phù hợp với thực tiễn kinh doanh thông thường’. Trên thực tế, nghĩa vụ cung cấp bản giới thiệu nhượng quyền là yếu tố thống nhất trong pháp luật nhượng quyền của các nước trên thế giới, trừ Kadắc-xtan, Lít-va và Nga. Ấn phẩm ‘Luật mẫu về bản giới thiệu nhượng quyền thương mại’ (Model Franchise Disclosure Law) của UNIDROIT, với sự gợi ý về nội dung tối thiểu của bản giới thiệu nhượng quyền, được mong đợi sẽ ảnh hưởng tới việc đẩy mạnh sự chấp thuận luật về bản giới thiệu nhượng quyền thương mại cũng như định hướng nội dung của nó. Mặc dù bản giới thiệu nhượng quyền được chấp nhận rộng rãi trong luật nhượng quyền của hầu hết các nước, chỉ có vài nước đòi hỏi bản nhượng quyền theo mẫu với việc chứa đựng các nội dung bắt buộc. Ở các nước có yêu cầu bản nhượng quyền thương mại bắt buộc, thì nhìn chung còn yêu cầu việc cập nhật thông tin hàng năm. Yêu cầu về bản nhượng quyền thương mại theo mẫu, cũng như việc báo cáo cập nhật thông tin hàng năm, được cho là sẽ làm thuận lợi hoá việc sưu tập số liệu về lĩnh vực này.
3. Hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền là điểm tham chiếu cốt lõi trong việc làm rõ mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Tuy nhiên, không phải tất cả các nước đều đòi hỏi hợp đồng nhượng quyền phải bằng văn bản. Hơn nữa, chỉ có một số nước quy định nội dung bắt buộc của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Đối với các nước không yêu cầu nội dung bắt buộc của hợp đồng nhượng quyền thương mại, thì phần lớn bắt buộc bản giới thiệu nhượng quyền thương mại phải có ít nhất một vài điều khoản hợp đồng then chốt. Chỉ có pháp luật Úc yêu cầu một điều khoản hợp lí rằng trước khi kí hợp đồng, bên dự kiến nhận quyền phải xác nhận rằng đã nhận được sự tư vấn từ nhà tư vấn kinh doanh hoặc nhà tư vấn pháp luật độc lập, hoặc kế toán viên độc lập hoặc đã được khuyên cần có sự tư vấn như thế nhưng chưa tiến hành tìm kiếm. Pháp luật Úc và Ma-lai-xi-a còn cho phép bên nhận quyền một giai đoạn ‘cân nhắc’ (‘cooling off’), theo đó bên nhận quyền có thể rút lại đề nghị kí kết hợp đồng và được bồi hoàn các khoản phí, sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lí mà bên nhượng quyền phải gánh chịu, với điều kiện là điều này được ghi rõ trong hợp đồng.
Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trong trường hợp các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Nội dung của quyền thương mại.
2. Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền.
3. Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền.
4. Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán.
5. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
6. Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.
Ngôn ngữ của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập bằng tiếng Việt. Trường hợp nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, ngôn ngữ của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên thoả thuận.
Thời hạn của hợp đồng nhượng quyền thương mại
1. Thời hạn hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên thoả thuận.
2. Hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể chấm dứt trước thời hạn thoả thuận trong các trường hợp Đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
1. Hợp đồng nhượng quyền thương mại có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
2. Nếu trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có phần nội dung về chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ thì phần đó có hiệu lực theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Điều kiện Chuyển giao quyền thương mại
Bên nhận quyền được chuyển giao quyền thương mại cho bên dự kiến nhận quyền khác khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:
- Bên dự kiến nhận chuyển giao đáp ứng các quy định;
- Được sự chấp thuận của Bên nhượng quyền đã cấp quyền thương mại cho mình .
- Chấp thuận việc chuyển giao quyền thương mại của Bên nhận quyền
Đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại
Bên nhận quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong trường hợp Bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền theo quy định tại Luật Thương mại 2005.
Bên nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong các trường hợp sau đây:
– Bên nhận quyền không còn Giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương mà theo quy định của pháp luật Bên nhận quyền phải có để tiến hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại.
– Bên nhận quyền bị giải thể hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam.
– Bên nhận quyền vi phạm pháp luật nghiêm trọng có khả năng gây thiệt hại lớn cho uy tín của hệ thống nhượng quyền thương mại.
– Bên nhận quyền không khắc phục những vi phạm không cơ bản trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trong một thời gian hợp lý, mặc dù đã nhận được thông báo bằng văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm đó từ Bên nhượng quyền.
4.Các vấn đề về tiêu chuẩn thực thi, hay quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
Hầu hết các nước có luật về nhượng quyền thương mại đều quy định về các vấn đề cụ thể trong quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Đa phần các nước (trừ Nhật Bản) ấn định các hạn chế đối với việc đơn phương chấm dứt hợp đồng bởi bên nhượng quyền, với công thức phổ biến nhất là đưa ra các sự kiện được phép chấm dứt hợp đồng, và/hoặc thông báo về vi phạm và cơ hội khắc phục. Thay vì quy định một thời hạn cố định cho mối quan hệ nhượng quyền, pháp luật nhượng quyền của hầu hết nước chỉ đơn thuần yêu cầu một thời hạn đủ dài cho bên nhận quyền thu hồi khoản đầu tư ban đầu. Trong khi quyền gia hạn hợp đồng không được ấn định bởi hầu hết nước có luật về nhượng quyền thương mại, thì việc phải thông báo trước về việc không gia hạn được quy định rất phổ biến. Hầu hết các nước sử dụng cơ chế điều chỉnh bằng bản giới thiệu nhượng quyền thương mại đều yêu cầu thông báo về việc chuyển giao hợp đồng, nhưng chỉ một vài nước trong đó quy định quyền được chuyển giao hợp đồng. Rất nhiều vấn đề khác về quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền cũng được điều chỉnh một cách đặc thù như vấn đề vi phạm hợp đồng, thay đổi đơn phương, miễn trách nhiệm, quyền liên kết, bảo mật, không cạnh tranh. Tuy nhiên, không có ‘một cách tiếp cận chung trên phạm vi toàn thế giới về pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền’. Các chuẩn mực thực thi chung đối với bên nhượng quyền và bên nhận quyền được ấn định bởi pháp luật một vài nước (bang) như các bang của Ca-na-đa, Trung Quốc, Ý, Hàn Quốc, và Ma-lai-xi-a, bao gồm yêu cầu về ‘buôn bán ngay thẳng’ (Ca-na-đa), ‘buôn bán ngay thẳng và trung thực’ (Trung Quốc), ‘thiện chí’ (Ý và Hàn Quốc), và ‘kinh doanh nhượng quyền tốt nhất theo thời gian và khu vực’ (Ma-lai-xi-a). Ở các nước khác, các vấn đề này được quy định bởi luật chung. Pháp luật Úc là trường hợp điển hình, khi quy định cấm thực hiện ‘hành vi lừa dối’ và ‘hành vi trái đạo đức’ trong Luật về người tiêu dùng và cạnh tranh (the Competition and Consumer Act) 2010, nhằm nâng tiêu chuẩn thực thi của các bên trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại. Một vài nước như Hàn Quốc và Nhật Bản quy định cấm các hành vi hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc, các hành vi vốn thường được ghi nhận trong luật cạnh tranh của nhiều nước khác. Cũng cần lưu ý rằng ở một số nước, đặc biệt là các DCs, các quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền và bên nhận quyền cũng được quy định rõ và điều này hết sức có ý nghĩa ở khía cạnh ‘giáo dục’
5. Giải quyết tranh chấp
Rất nhiều nước quy định rằng quy trình giải quyết tranh chấp phải được nêu rõ trong hợp đồng hoặc bản giới thiệu nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, chỉ một số nước (bang) như Úc, An-bơ-ta (Ca-na-đa) và Hàn Quốc ấn định thủ tục hoà giải như là yêu cầu tiên quyết trước khi đưa ra kiện tụng. Úc đã rất thành công trong việc sử dụng hoà giải như là một giai đoạn không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Hơn 75% tranh chấp được gửi tới Văn phòng cố vấn hoà giải nhượng quyền thương mại (Văn phòng này thành lập theo Bộ luật thực thi nhượng quyền thương mại ở Úc (Franchising Code of Conduct in Australia) - được Chính phủ bảo trợ - để hoà giải và được giải quyết chỉ trong vòng 1 ngày với chi phí rất thấp trong tương quan so sánh với giải quyết tranh chấp theo kiểu truyền thống.
Luật Minh Khuê(sưu tầm và biên tập)