1.Các vấn đề về tiêu chuẩn thực thi và quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
Luật thương mại quy định 5 điều khoản khá cơ bản về các quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền (các Điều 286 và 287) và bên nhận quyền (các điều 288, 289 và 290). Bên nhận quyền có quyền nhận tiền phí nhượng quyền, tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và kiểm tra bên nhận quyền để đảm bảo sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá, dịch vụ. Bên nhượng quyền có nghĩa vụ: cung cấp bản giới thiệu nhượng quyền thương mại, đào tạo ban đầu, trợ giúp kĩ thuật thường xuyên và bảo đảm IPRs đối với các đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền; thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của thương nhân nhận quyền; đối xử bình đẳng với các bên nhận quyền trong cùng hệ thống nhượng quyền thương mại. Bên nhận quyền có quyền yêu cầu bên nhượng quyền cung ứng các hỗ trợ kĩ thuật, đối xử bình đẳng với các bên nhận quyền khác trong cùng hệ thống nhượng quyền thương mại, và có quyền cấp lại quyền thương mại cho bên thứ ba nếu được sự đồng ý của bên nhượng quyền. Bên nhận quyền có nghĩa vụ: Trả các khoản thanh toán theo hợp đồng nhượng quyền thương mại, đầu tư cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực; chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền; giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền trong suốt thời gian nhận nhượng quyền và kể cả sau khi hết hợp đồng nhượng quyền; ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh và các IPRs khác (nếu có), hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại; vận hành kinh doanh phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại; không được nhượng quyền lại nếu không có sự đồng ý của bên nhượng quyền. Chuyển giao quyền thương mại: Nghị định 35 cho phép bên nhận quyền được chuyển giao quyền thương mại cho bên dự kiến nhận quyền khác (Điều 15), nếu bên dự kiến nhận chuyển giao có đăng kí ngành nghề kinh doanh phù hợp với đối tượng của quyền thương mại và được sự đồng ý của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền trực tiếp chỉ có quyền từ chối việc chuyển giao quyền thương mại của bên nhận quyền, khi có một trong các lí do như sau: Bên dự kiếng nhận chuyển giao không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính mà bên dự kiến nhận chuyển giao phải thực hiện theo hợp đồng nhượng quyền thương mại; Bên dự kiến nhận chuyển giao chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn lựa chọn của bên nhượng quyền trực tiếp; Việc chuyển giao quyền thương mại sẽ có ảnh hưởng bất lợi lớn đối với hệ thống nhượng quyền thương mại hiện tại; Bên dự kiến nhận chuyển giao không đồng ý bằng văn bản sẽ tuân thủ các nghĩa vụ của bên nhận quyền theo hợp đồng nhượng quyền thương mại; Bên nhận quyền chưa hoàn thành các nghĩa vụ đối với bên nhượng quyền trực tiếp, trừ trường hợp bên dự kiến nhận chuyển giao cam kết bằng văn bản thực hiện các nghĩa vụ đó thay cho bên nhận quyền. Bên nhận quyền dự định chuyển giao quyền thương mại phải gửi yêu cầu bằng văn bản về việc chuyển giao quyền thương mại cho bên nhượng quyền trực tiếp, và trong vòng 15 ngày, bên nhượng quyền trực tiếp phải có văn bản trả lời, trong đó nêu rõ chấp thuận hoặc từ chối dựa trên một trong các lí do nêu trên. Trong thời hạn 15 ngày, nếu bên nhận quyền không nhận được văn bản trả lời của bên nhượng quyền trực tiếp, thì coi như việc dự kiến chuyển giao quyền thương mại được chấp thuận bởi bên nhượng quyền trực tiếp. Đối với việc chuyển giao quyền thương mại, tất cả các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền thương mại của bên chuyển giao đều được chuyển cho bên nhận chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại: Bên nhận quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 16 Nghị định 35), nếu bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 287 Luật thương mại: Cung cấp bản giới thiệu nhượng quyền thương mại cho bên nhận quyền; Đào tạo ban đầu và hỗ trợ kĩ thuật thường xuyên cho bên nhận quyền để đảm bảo sự hoạt động của hệ thống nhượng quyền thương mại; Thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của bên nhận quyền; Đảm bảo tính hiệu lực của IPRs được chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; Đối xử bình đẳng đối với các bên nhận quyền trong cùng hệ thống nhượng quyền thương mại. Bên nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 16 Nghị định 35) trong các trường hợp sau đây: Bên nhận quyền không còn giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương, mà theo quy định của pháp luật bên nhận quyền phải có để tiến hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại; Bên nhận quyền bị giải thể hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam; Bên nhận quyền ‘vi phạm pháp luật nghiêm trọng’, có khả năng gây thiệt hại lớn cho uy tín của hệ thống nhượng quyền thương mại; Bên nhận quyền không khắc phục những vi phạm không cơ bản trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trong một thời gian hợp lí, mặc dù đã nhận được thông báo bằng văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm đó từ bên nhượng quyền.
2. Đăng kí nhượng quyền và báo cáo
Theo Luật thương mại, trước khi nhượng quyền, ‘bên dự kiến nhượng quyền phải đăng kí với Bộ thương mại’ (nay là Bộ công thương), và Chính phủ sẽ quy định chi tiết ‘điều kiện kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại và trình tự, thủ tục đăng kí nhượng quyền thương mại’ (Điều 291). Việc đăng kí cũng được quy định tại Nghị định 35, theo đó các hoạt động nhượng quyền thương mại - chứ không phải bên dự kiến nhượng quyền - phải được đăng kí (Điều 17). Chi tiết về việc đăng kí nhượng quyền thương mại được quy định tại Thông tư 09. Bên nhượng quyền chỉ phải đăng kí một lần thay vì từng lần một cho từng hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bộ thương mại (nay là Bộ công thương) chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Trong các trường hợp khác, Sở thương mại (nay là Sở công thương) ở các tỉnh, nơi bên nhượng quyền đăng kí kinh doanh, sẽ thực hiện đăng kí hoạt động nhượng quyền trong nước (Điều 18). Bên nhượng quyền phải lập hồ sơ đề nghị đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại theo mẫu quy định và kèm theo là bản giới thiệu nhượng quyền thương mại, các văn bản xác nhận về tư cách pháp lí của bên nhượng quyền, các văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài, nếu bên nhượng quyền có chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đó. Nếu bất kì giấy tờ nào thuộc hồ sơ đề nghị đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại được lập bằng tiếng nước ngoài, thì sẽ phải được dịch ra tiếng Việt và được công chứng phù hợp với quy định tại Nghị định 35. Nếu thương nhân nộp đơn là bên nhượng quyền thứ cấp, thì còn phải nộp giấy tờ chứng minh sự cho phép nhượng quyền lại từ bên nhượng quyền ban đầu (Điều 19 Nghị định 35 và Thông tư 09). Việc đăng kí hoạt động nhượng quyền có thể bị hủy bỏ, nếu bên nhượng quyền ngừng kinh doanh, hoặc chuyển đổi ngành nghề kinh doanh, hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư (Điều 22 Nghị định 35). Ngoài ra luật riêng về nhượng quyền thương mại còn yêu cầu việc báo cáo thường niên của bên nhượng quyền cho cơ quan nhà nước đăng kí hoạt động nhượng quyền. Bên nhượng quyền phải thông báo cho cơ quan đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại về các thay đổi thông tin thuộc về thông tin chung về bên nhượng quyền, và nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ và IPRs khác trong vòng 30 ngày, kể từ ngày có thay đổi các thông tin đó (Thông tư 09). Bên nhượng quyền cũng phải thông báo thường niên cho cơ quan đăng kí về các thông tin về bên nhượng quyền, chi phí ban đầu mà bên nhận quyền phải trả, các nghĩa vụ tài chính khác của bên nhận quyền, đầu tư ban đầu của bên nhận quyền, nghĩa vụ của bên nhận quyền phải mua hoặc thuê những thiết bị phù hợp với hệ thống kinh doanh do bên nhượng quyền quy định, nghĩa vụ của bên nhượng quyền, mô tả thị trường của hàng hoá/dịch vụ được kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại mẫu, thông tin về hệ thống nhượng quyền thương mại, báo cáo tài chính của bên nhượng quyền, và phần thưởng, sự công nhận sẽ nhận được hoặc tổ chức cần phải tham gia, chậm nhất là ngày 15/1 hàng năm (Thông tư 09).
3.Bên nhượng quyền nước ngoài
Mặc dù áp dụng cơ chế pháp lí khá thống nhất cho cả bên nhượng quyền nước ngoài và trong nước giống như thực tiễn pháp luật các nước trên thế giới, Việt Nam đã từng đưa ra một số hạn chế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại. Những hạn chế này đã được loại bỏ cho phù hợp với các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO. Tất cả các hạn chế về các hình thức doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bị loại bỏ vào ngày 1/1/2009. Cho tới ngày 1/1/2008, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại phải dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh với mức vốn góp tối đa của bên nước ngoài là 49%. Giới hạn về vốn góp của bên nước ngoài được loại bỏ vào ngày 1/1/2008, nhưng yêu cầu về hình thức doanh nghiệp liên doanh thì vẫn được duy trì. Từ ngày 1/1/2009, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được thành lập ở Việt Nam tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại có thể là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Luật riêng về nhượng quyền thương mại của Việt Nam không quy định trực tiếp về vấn đề chọn luật áp dụng cho các hợp đồng nhượng quyền thương mại, trừ việc đưa ra cụm từ ‘trong trường hợp các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam’ mở đầu cho điều luật về nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 11 Nghị định 35). Cụm từ này ám chỉ khả năng lựa chọn pháp luật nước ngoài áp dụng cho các hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài. Điều đó có nghĩa là mặc dù bên nhượng quyền nước ngoài vẫn phải tuân thủ luật riêng về nhượng quyền thương mại của Việt Nam về các vấn đề khác như đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại, điều kiện của bên nhượng quyền và bản giới thiệu nhượng quyền thương mại, nhưng các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại vẫn có thể lựa chọn hệ thống pháp luật nước ngoài để áp dụng cho hợp đồng. Là một dạng quan hệ dân sự, việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng nhượng quyền thương mại phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Bộ luật dân sự - được coi như đạo luật ‘mẹ’ điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung.
4. Đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại
Bên nhận quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong trường hợp Bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền theo quy định tại Luật Thương mại 2005.
Bên nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong các trường hợp sau đây:
– Bên nhận quyền không còn Giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương mà theo quy định của pháp luật Bên nhận quyền phải có để tiến hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại.
– Bên nhận quyền bị giải thể hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam.
– Bên nhận quyền vi phạm pháp luật nghiêm trọng có khả năng gây thiệt hại lớn cho uy tín của hệ thống nhượng quyền thương mại.
– Bên nhận quyền không khắc phục những vi phạm không cơ bản trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trong một thời gian hợp lý, mặc dù đã nhận được thông báo bằng văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm đó từ Bên nhượng quyền.
5. Trình tự thực hiện nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam
1. Trình tự thực hiện
Bước 1: Nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Bộ Công Thương;
Bước 2: Bộ Công Thương kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ.
Bước 3: Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Bộ Công Thương thẩm tra nội dung hồ sơ.
Nếu hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Bộ Công Thương ban hành Thông báo chấp thuận nhượng quyền thương mại cho tổ chức. Nếu hồ sơ không đáp ứng đủ điều kiện, trong vòng 03 ngày làm việc Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản cho tổ chức, nêu rõ lý do không chấp thuận.
Bước 4: Sau khi hoàn thành trách nhiệm nộp lệ phí, tổ chức nhận Thông báo trực tiếp tại tại Bộ hoặc bằng đường bưu điện.
2. Hồ sơ đăng ký
Hồ sơ bao gồm:
-Đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại theo mẫu MĐ-1 tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 09/2006/TT-BTM;
-Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư 09/2006/TT-BTM (cần hợp pháp hóa lãnh sự);
-Các văn bản xác nhận về:
+ Tư cách pháp lý của bên dự kiến nhượng quyền thương mại: Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền nơi thương nhân nước ngoài thành lập xác nhận (cần được hợp pháp hóa lãnh sự);
+ Bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu đối với văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài trong trường hợp có chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ (cần được hợp pháp hóa lãnh sự);
+ Giấy tờ chứng minh sự chấp thuận về việc cho phép nhượng quyền lại của bên nhượng quyền ban đầu trong trường hợp thương nhân đăng ký hoạt động nhượng quyền là bên nhượng quyền thứ cấp;
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)