- 1. Khái quát về tên ghi trên sổ đỏ
- 2. Quy định của pháp luật về việc ghi tên vợ, chồng trên sổ đỏ
- 2.1 Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng
- 2.2 Đối với tài sản chung của vợ, chồng
- 3. Cách ghi tên trên sổ đỏ khi vợ chồng cùng chung sở hữu
- 3.1 Vợ chồng đứng tên chung
- 3.2 Chỉ vợ hoặc chồng (1 người) đứng tên
- 3.3 Vợ, chồng và người khác cùng đứng tên
1. Khái quát về tên ghi trên sổ đỏ
Tên ghi trên sổ đỏ là tên chủ sở hữu của tài sản đó, được ghi nhận và xác định trong giấy tờ pháp lý. Ví dụ, nếu đó là sổ đỏ của một căn nhà, thì tên ghi trên sổ đỏ sẽ là tên của người sở hữu căn nhà đó. Tên này có thể bao gồm họ và tên đầy đủ, hoặc chỉ tên riêng của chủ sở hữu.
Như vậy, tên ghi trên sổ đỏ chính là tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận các quyền sở hữu nhà ở, sử dụng đất và các tài sản khác liên quan đến đất được xem là giấy chứng nhận có tính pháp lý cho việc sở hữu tài sản đó, bao gồm miếng đất hoặc căn nhà. Tùy vào từng loại mô hình nhà hoặc đất, sẽ có các giấy chứng nhận khác nhau được cấp phép.
Việc ghi tên trên sổ đỏ được công nhận bởi Nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu và bảo vệ lợi ích trong trường hợp có tranh chấp hoặc mâu thuẫn xảy ra. Nói cách khác, đây là xác nhận về quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với miếng đất hoặc căn nhà đó.
2. Quy định của pháp luật về việc ghi tên vợ, chồng trên sổ đỏ
2.1 Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại Điều 43, 44 rằng tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm tài sản mà mỗi người sở hữu trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân, được chia riêng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu và tài sản khác được quy định là sở hữu riêng của vợ hoặc chồng theo pháp luật. Tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng cũng được xem là tài sản riêng của mỗi người. Vợ và chồng có quyền sử dụng, chiếm hữu và quyết định về tài sản riêng của mình, và có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Do đó, nếu đất đai hoặc nhà cửa được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, thì bên còn lại không có quyền sử dụng hoặc sở hữu trừ khi có thoả thuận khác. Vì vậy, chỉ người nào có tên trên sổ đỏ là chủ sở hữu của tài sản riêng của mình (trừ khi có thoả thuận khác).
2.2 Đối với tài sản chung của vợ, chồng
Điều 33 và 34 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định rằng quyền sử dụng đất thu được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ khi được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Nếu tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng được quy định bởi pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, thì giấy chứng nhận phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ khi hai bên đã có thỏa thuận khác.
Theo khoản 4 của Điều 98 Luật Đất đai 2013, nếu quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng, thì giấy chứng nhận phải ghi cả hai tên vợ chồng, trừ khi hai bên đã có thỏa thuận khác.
Tóm lại, nếu đất đai hoặc nhà cửa là tài sản chung của vợ chồng, thì trên sổ đỏ sẽ ghi tên cả vợ và chồng, trừ khi hai bên có thoả thuận ghi tên một người. Nếu sổ đỏ đã được cấp cho tài sản chung của vợ và chồng mà chỉ ghi một người, thì có thể yêu cầu cấp đổi sang sổ mới để ghi cả hai tên vợ chồng.
3. Cách ghi tên trên sổ đỏ khi vợ chồng cùng chung sở hữu
3.1 Vợ chồng đứng tên chung
Theo những phân tích trên đây, trong trường hợp quyền sử dụng nhà đất là tài sản chung của vợ chồng, thì cả hai phải được ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng (sổ đỏ), trừ khi có thỏa thuận khác. Thực tế cho thấy, hầu hết các cặp vợ chồng đều chọn cách cùng đứng tên trên sổ đỏ để đảm bảo rằng đó là tài sản chung và tránh gây tranh chấp khi ly hôn phải phân chia tài sản.
Nếu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có tên của vợ hoặc chồng, người còn lại muốn bổ sung tên mình vào sổ đỏ, thì phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất, xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở. Các thủ tục cụ thể để thêm tên vào sổ đỏ được quy định tại Điều 76 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
Lúc này, người sử dụng đất cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT gồm các giấy tờ sau:
- Đơn đề nghị cấp đổi theo Mẫu số 10/ĐK.
- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.
- Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (bản sao có chứng thực).
Sau đó, thực hiện nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nơi có đất hoặc tại bộ phận một cửa theo quy định của UBND cấp tỉnh, nơi chưa tổ chức bộ phận một cửa thì nộp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai hoặc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường nếu chưa có văn phòng đăng ký đất đai.
3.2 Chỉ vợ hoặc chồng (1 người) đứng tên
Có thể xảy ra trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận riêng về việc chỉ một trong hai người đứng tên trên sổ đỏ, hoặc đơn giản là trong quá trình giao dịch, chỉ một trong hai người đứng ra ký kết hợp đồng mua bán, dẫn đến khi sang tên sổ đỏ cũng chỉ có tên của một người. Tuy nhiên, theo nguyên tắc, căn nhà đó vẫn là tài sản chung của vợ và chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Khi bán nhà, cần có sự đồng ý của cả hai người.
Ngoại trừ trường hợp ngoại lệ quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi chỉ một trong hai người đứng tên trên sổ đỏ và nguồn tiền để mua nhà xuất phát từ tài sản riêng của người đó. Nếu vợ hoặc chồng được cho, tặng, thừa kế riêng một căn nhà trong thời kỳ hôn nhân, có bằng chứng hợp pháp và trước đó không có thỏa thuận quy vào tài sản chung thì căn nhà đó sẽ được coi là tài sản riêng của người được cho, tặng hoặc thừa kế.
3.3 Vợ, chồng và người khác cùng đứng tên
Trong trường hợp vợ chồng cùng người khác góp vốn để mua nhà đất, sổ đỏ sẽ ghi đầy đủ tên của tất cả các chủ sở hữu. Theo quy định của Khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai 2013, nếu nhiều người sở hữu chung thửa đất, nhà ở hoặc tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác phải ghi đầy đủ tên của tất cả những người sở hữu chung và cấp cho mỗi người một Giấy chứng nhận. Nếu một trong số những chủ sở hữu muốn thực hiện bất kỳ giao dịch nào liên quan đến quyền sử dụng nhà đất, ý kiến của tất cả những người còn lại phải được lấy. Trong trường hợp các chủ sở hữu đồng ý chỉ có một người đứng tên trên sổ đỏ, rủi ro tiềm tàng sẽ rất cao. Do đó, khi góp vốn để mua chung nhà đất, các bên cần lập văn bản có công chứng, thỏa thuận rõ ràng về phần góp vốn của mỗi bên, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên để tránh tranh chấp xảy ra sau này.
Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo những bài viết sau của Luật Minh Khuê:
- Sổ đỏ đứng tên một mình vợ khi bán chồng có phải ký tên không?
- Nhiều người cùng mua chung một mảnh đất thì sổ đỏ sẽ đứng tên ai ?
- Quy định về đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Cách ghi tên vợ, chồng trên sổ đỏ theo quy định mới nhất? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật sư tư vấn điều kiện, thủ tục xin cấp sổ đỏ trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.