Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định của:  Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ Luật tố tụng Hình sự 2015; và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 có thể phân tích như sau:

 

1. Thẩm quyền của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân

Cơ quan An ninh điều tra cấp tỉnh điều tra các tội xâm phạm An ninh quốc gia, các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân và các tội phạm khác khi được Bộ trưởng Bộ Công an giao.

Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an điều tra các tội phạm quy định tại Chương XXIV của Bộ luật Hình sự và những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra cấp tỉnh nêu trên nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

 

2. Thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra

Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện điều tra tất cả các tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra.

Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh điều tra các tội phạm được quy định từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật Hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh và những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an điều tra các vụ án về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

 

3. Thẩm quyền của Cơ quan điều tra an ninh quân đội

Cơ quan điều tra an ninh quân đội ở Quân khu, Quân chủng, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng điều tra những vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XI, Chương XXIV của Bộ luật Hình sự, thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cùng cấp, trừ các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân.

 

4. Thẩm quyền của Cơ quan điều tra quân sự các cấp

Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực, trừ những trường hợp do Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra an ninh Quân đội điều tra.

Cơ quan điều tra quân sự ở Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục, Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh đoàn, Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cùng cấp, trừ những trường hợp do Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra an ninh Quân đội và những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Cơ quan điều tra quân sự ở Bộ Quốc phòng điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân sự ở Bộ tổng tham mưu, Tổng cục, Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Binh đoàn, Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng, nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Thẩm quyền điều tra tội phạm không chỉ căn cứ vào loại Cơ quan điều tra, căn cứ vào phân cấp trong từng loại mà còn phải căn cứ vào nơi xảy ra tội phạm. Quy định chung là Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt. Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết.

 

5. Cách xác định thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra?

Câu hỏi: Nguyễn Văn Bình là quân nhân thuộc lực lượng Quân đội nhân dân mua xe máy phân khối lớn trị giá 250 triệu đồng. Do chủ quan nên anh Bình đã bị đối tượng Trân Xuân Hữu (trú tại quận K, thành phố H) lấy cắp tại nhà riêng của mình thuộc quận K, thành phô H. Đối tượng Hữu mang xe đi bán tại quận T, thành phố H thì bị Công an quận T phát hiện bắt giữ. Vây, Thẩm quyền điều tra thuộc Cơ quan điều tra nào?

Trả lời:

Tình huống trên cấu thành hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, vì vậy thẩm quyền điều tra sẽ có thể thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân hoặc Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân.

Theo quy định tại Điều 173 (tội trộm cắp tài sản) của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 : Xe máy 

của anh Nguyễn Văn Bình có giá trị 250 triệu đồng bị đối tượng Hữu trộm cắp khi đó Hữu sẽ chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 3 Điều 173 với khung hình phạt tù từ 07 đến 15 năm đây là tội phạm rất nghiêm họng.

Theo quy định của Điều 163 (thẩm quyền điều tra) của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực.

Theo quy định của Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

  • Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
  • Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
  • Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự;
  • Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ quy định của 3 điều luật trên cho thấy, đối với vụ án này thẩm quyền điều tra sẽ có thể thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện hoặc Cơ quan điều tra hình sự khu vực. 

Theo Điều 272 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

  • Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;
  • Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.

Tình huống trên người bị hại là quân nhân nhưng bị thiệt hại tài sản riêng, không gây thiệt hại đến Quân đội nhân dân do đó vụ án trên thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an quận K hoặc quận T.

Cũng theo quy định tại khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt. Như vậy, trong tình huống này thẩm quyền điều tra thuộc về Cơ quan CSĐT Công an quận K.

 

6. Cách xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân sự các cấp

Câu hỏi: Trần Văn Nam và Nguyễn Văn Hòa là hai đối tượng nghiện ma túy. Để có tiền hút ma túy, hai đối tượng đã dự định cướp tài sản của những ngưM đi làm về qua đoạn đường vắng. Vào lúc 2211 ngày 10/5/2015 chị Vũ Thị Trang (là sĩ quan quân đội) đỉ ngang qua đoạn đường vắng thuộc địa phận huyện K, tỉnh H đã bị hai đối tượng chặn đường sử dụng dao khống chế cướp tài sản là 01 dây chuyền vàng (trị giá 20 triệu đồng), 01 nhẫn vàng (9 triệu đồng). Sau đó, các đối tượng bất ngờ khống chế chị Vũ Thị Trang và cùng thực hiện hành vi hiếp dâm. Vậy, Vụ án trên Cơ quan điều tra nào có thẩm quyền giải quyết?

Trả lời:

Căn cứ vào nội dung tình huống trên hành vi của các đối tượng Trần Văn Nam và Nguyễn Văn Hòa cấu thành tội phạm cướp tài sản được quy định tại Điều 168 và tội phạm hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy thẩm quyền điều tra thuộc Cơ quan CSĐT của CAND hoặc Cơ quan điều tra hình sự trong QĐND.

Theo quy định tại Điều 168 tội cướp tài sản của Bộ luật Hình sự: Với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 29 triệu đồng và các đối tượng sử dụng dao thực hiện hành vi cướp tài sản. Vì vậy cấu thành tội phạm cướp tài sản được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 với khung hình phạt tù từ 07 đến 15 năm là tội phạm rất nghiêm trọng.

Theo quy định tại Điều 141 tội hiếp dâm của Bộ luật Hình sự: Với các tình tiết có liên quan đến vụ án trên là cả hai đối tượng đã khống chế và cùng thực hiện hành vi hiếp dâm đối với chị Vũ Thị Trang nên đã cấu thành tội phạm hiếp dâm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141 với khung hình phạt tù từ 07 đến 15 năm là tội phạm rất nghiêm trọng.

Theo quy định của Điều 163 (thẩm quyền điều tra) của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực.

Theo quy định của Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

  • Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
  • Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
  • Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278,279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371,399 và 400 của Bộ luật Hình sự;
  • Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ quy định này cho thấy, vụ án trên có thể thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT của Công an huyện K hoặc Cơ quan điều tra hình sự khu vực quản lý quân nhân c.

Theo Điều 272 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

  • Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;
  • Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tm của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.

Như vậy, hành vi của hai đối tượng Nam và Hòa đã xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân. Vì vậy vụ án trên thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự khu vực của Bộ Quốc phòng.

 

7. Câu hỏi thường gặp về điều tra vụ án hình sự

7.1 Trách nhiệm quản lý về công tác điều tra hình sự?

- Chính phủ thống nhất quản lý về công tác điều tra hình sự, có trách nhiệm sau đây:

+ Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về điều tra hình sự;

+ Chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về điều tra hình sự;

+ Chỉ đạo phổ biến, giáo dục pháp luật về điều tra hình sự;

+ Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền đình chỉ, bãi bỏ quy định về điều tra hình sự ưái với quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan;

+ Quy định chế độ báo cáo về điều tra hình sự;

+ Hợp tác quốc tế về điều tra hình sự.

- Bộ Công an giúp Chính phủ thực hiện trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này.

 

7.2 Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công an trong công tác điều tra hình sự?

- Ban hành theo thẩm quyền hoặc ưình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về điều tra hình sự để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do Bộ Công an phụ ưách.

- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các vãn bản quy phạm pháp luật về điều tra hình sự.

- Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về điều tra hình sự.

- Đình chỉ, bãi bô theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về điều tra hình sự trái với quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và pháp luật khác có liên quan.

- Chủ trì, phối hợp ban hành các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự.

- Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; trang bị phương tiện, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ làm công tác điều tra trong Công an nhân dân; bồi dưỡng, huấn luyện, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học về công tác điều tra hình sự.

- Quản lý cơ sở dữ liệu về điều tra hình sự.

- Thực hiện chế độ báo cáo về công tác điều tra hình sự theo quy định của Chính phủ.

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về điều tra theo quy định của pháp luật.

 

7.3 Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong công tác điều tra hình sự?

- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm

quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về điều tra hình sự để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩoh vực do Bộ Quốc phòng phụ trách.

- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân.

- Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân.

- Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về điều tra hình sự trái với quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và pháp luật khác có liên quan.

- Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; trang bị phương tiện, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ làm công tác điều ha hình sự trong Quân đội nhân dân; tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học về công tác điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân.

- Thực hiện chế độ báo cáo về công tác điều tra hình sự theo quy định của Chính phủ.

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về điều tra hình sự theo quy định của pháp luật.