Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm
- 2. Đặc điểm
- 3. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân
- 3.1 Khái quát chung
- 3.2 Nội dung thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân
- 3.2.1 Thu thập chứng cứ, áp dụng mọi biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm
- 3.2.2 Qua công tác điều tra, CQĐT xác định được tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra
- 3.2.3 Lập hồ sơ đề nghị truy tố bị can
- 3.2.4 Thông qua hoạt động điều tra tội phạm, CQĐT phát hiện những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm
- 3.2.5 Thông qua công tác điều tra tội phạm, CQĐT tội phạm góp phần vào việc giáo dục công dân
1. Khái niệm
Quá trình giải quyết vụ án hình sự ở nước ta được chia thành các giai đoạn: Giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án. Quyền tiến hành điều tra vụ án hình sự thuộc về CQĐT và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Các cơ quan khác đó là cơ quan của Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan Kiểm ngư và một số cơ quan trong CAND và QĐND.
2. Đặc điểm
Để xác định những nội dung liên quan đến Cơ quan CSĐT thì cần làm rõ một số vấn đề sau:
Một là, Khoản 1 Điều 34 Bộ luật TTHS 2015 quy định: Cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.
Trên cơ sở phân công thẩm quyền điều tra, hệ thống CQĐT của Nhà nước ta hiện nay được tổ chức gồm: CQĐT của CAND, CQĐT trong QĐND và CQĐT của VKSND tối cao. CQĐT trong CAND gồm CQCSĐT và CQANĐT.
Như vậy, về địa vị pháp lý thì CQCSĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng được quy định trong Luật TTHS.
Hai là, khoản 2 Điều 5 Luật TCCQĐTHS 2015 quy định, trong CAND có các CQĐT sau:
- Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh); Cơ quan CSĐT Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện);
- Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh).
Như vậy, về vị trí thì CQCSĐT là một trong những CQĐT của CAND và trong tổ chức của CQCSĐT gồm có: Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh và Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.
Ba là, theo quy định tại Điều 8 Luật TCCQĐTHS năm 2015 thì CQĐT có nhiệm vụ, quyền hạn sau: tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao; tiến hành điều tra các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Như vậy, cũng như các CQĐT khác, CQCSĐT được pháp luật TTHS xác định vị trí pháp lý là Cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ quan đầu tiên tiếp cận thông tin về tội phạm. Do đó CQCSĐT có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và những vấn đề cần phải chứng minh khác trong một vụ án hình sự.
Bốn là, thẩm quyền điều tra của CQCSĐT từng cấp được BLTTHS năm 2015 và Luật TCCQĐTHS năm 2015 quy định khá cụ thể, rõ ràng.
Theo quy định tại Điều 163 và Điều 164 của BLTTHS năm 2015, CQĐT của CAND điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong QĐND và CQĐT VKSND tối cao.CQĐT trong QĐND điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. CQĐT VKSND tối cao, CQĐT VKS quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Còn đối với cơ quan của Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đông điều tra khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hinh sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho VKS có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hinh sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Các cơ quan khác trong CAND và QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Theo quy định tại Điều 19, Điều 20 và Điều 21 Luật TCCQĐTHS năm 2015, CQCSĐT có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XIV đến Chương XXIV của BLHS năm 2015, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của của CQĐT trong QĐND, của CQĐT của VKSND tối cao và của CQANĐT trong CAND, cụ thể như sau:
+ CQCSĐT Công an cấp huyện có thẩm quyền điều tra vụ án vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của BLHS năm 2015 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC và CQANĐT của CAND.
+ CQCSĐT Công an cấp tỉnh có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của BLHS năm 2015 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQCSĐT Công an cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.
+ CQCSĐT Bộ Công an có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của CQCSĐT Công an cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra; các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của CQCSĐT do Hôi đông Thẩm phán TAND tối cao hủy để điều tra lại.
Trên cơ sở phân tích như trên có thể hiểu: CQCSĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng được tổ chức trong hệ thống CQĐT trong CAND, được tổ chức từ cấp Bộ đến cấp huyện, có trách nhiệm điều tra tất cả những tội phạm theo thẩm quyền, được áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố trước pháp luật.
3. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân
3.1 Khái quát chung
Theo Từ điển tiếng Việt, "Thẩm quyền" nói chung là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật (như thẩm quyền xét xử của Toà án, cơ quan có thẩm quyền); xét về tư cách chuyên môn (người có thẩm quyền) thì đó là người được pháp luật thừa nhận để có ý kiến có tính chất quyết định về một vấn đề.
Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thẩm quyền là quyền được thực hiện những hành vi và ra các quyết định pháp lý nhất định của chủ thể theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, thẩm quyền là quyền hạn của một cơ quan, một tổ chức hoặc của một cá nhân được làm một việc hoặc một loại công việc nào đó trong phạm vi pháp luật cho phép. Phạm vi đó là giới hạn của thẩm quyền. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, sự phân định thẩm quyền được thiết lập giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Từ góc độ tố tụng hình sự thì thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ pháp lý thực hiện các hành vi tố tụng và ra các quyết định tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Cũng theo Từ điển tiếng Việt thì điều tra là những hành động "tìm hỏi, xem xét để biết rõ sự thật" . Như vậy, thẩm quyền điều tra trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ thực hiện các hành động như tìm hỏi, xem xét về các sự việc phạm tội nhằm xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội; làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; xác định hậu quả của tội phạm; thực hiện các biện pháp bảo đảm bồi thường thiệt hại; tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố; yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục ngăn ngừa. Để thực hiện các hành vi nêu trên, CQĐT, ĐTV có quyền ban hành các quyết định tương ứng. Các quyền và nghĩa vụ này không chỉ được giao cho thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV mà còn là thủ trưởng các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Nói một cách khái quát, thẩm quyền điều tra tố tụng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thể hiện qua việc tìm tòi, xem xét để biết rõ sự thật của vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra.
Với tính chất là một giai đoạn của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng việc CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra (tuy nhiên trong một số trường hợp, hoạt động điều tra có thể được tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án như xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, khám nghiệm hiện trường...).
Xét trong mối quan hệ tố tụng thì điều tra vụ án là giai đoạn tiếp diễn sau khi khởi tố vụ án hình sự, là khâu đột phá trong cả tiến trình tố tụng hình sự. Hoạt động điều tra là giai đoạn tố tụng có ý nghĩa hết sức quan trọng, những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội... thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra. Số lượng và chất lượng tài liệu, chứng cứ mà CQĐT thu thập được là cơ sở cho việc nhận định, đánh giá và truy tố người phạm tội của Viện kiểm sát và là tiền đề để quyết định giới hạn và chất lượng xét xử của Toà án. Vai trò của giai đoạn điều tra được thể hiện rõ nét trong các nhiệm vụ điều tra cụ thể, đó là:
3.2 Nội dung thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân
3.2.1 Thu thập chứng cứ, áp dụng mọi biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm
và người đã thực hiện hành vi phạm tội
Tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là vấn đề cần phải chứng minh, làm rõ trong vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra, CQĐT vụ án hình sự phải thu thập chứng cứ để xác định có hay không có sự việc phạm tội, đối chiếu với BLHS để xác định tội danh mà người phạm tội đã thực hiện, cùng với những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi xác định có tội phạm xảy ra, CQĐT vụ án hình sự phải làm rõ ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội. Nếu vụ án có đồng phạm thì phải xác định tính chất của đồng phạm, vai trò của từng người trong vụ đồng phạm đó.
Khi đã xác định được người thực hiện hành vi phạm tội, nếu thấy cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì khởi tố họ với tư cách là bị can. Tùy theo tính chất, mức độ của tội phạm, thái độ của bị can, yêu cầu của công tác điều tra mà CQĐT áp dụng biện pháp ngăn chặn. Trường hợp bị can bỏ trốn thì phải ra quyết định truy nã, tổ chức truy bắt. Đối với những vụ án bị can bị bắt quả tang về một tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng và nhân thân bị can đã được xác định thì CQĐT đề nghị VKS ra quyết định để áp dụng thủ tục rút gọn.
3.2.2 Qua công tác điều tra, CQĐT xác định được tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra
làm cơ sở cho Toà án quyết định mức bồi thường thiệt hại được chính xác
Mỗi tội phạm xảy ra đều gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nhất định cho xã hội. Trong điều tra vụ án hình sự, CQĐT phải làm rõ được loại và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra để đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm. Rằng thiệt hại do tội phạm đó gây ra hoặc đe doạ gây ra là thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ, tinh thần hay gây ra tình trạng nguy hiểm cho người khác và ở mức độ nào. Để tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án, nết xét thấy cần thiết CQĐT phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với những người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc có thể tịch thu tài sản hay phạt tiền...
3.2.3 Lập hồ sơ đề nghị truy tố bị can
Để ra quyết định truy tố và tiến hành xét xử vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, VKS và TAND phải căn cứ vào hồ sơ vụ án. Nếu hồ sơ không đầy đủ, VKS sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định và những yêu cầu hợp lý trong và sau quá trình điều tra như khởi tố bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khi có căn cứ theo luật định; thay đổi ĐTV, yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án nếu việc khởi tố của CQĐT không có căn cứ và hợp pháp theo luật định; ra bản cáo trạng truy tố bị can...
Đồng thời Tòa án cũng không có cơ sở để xem xét bản án hoặc quyết định cần thiết khác trong khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của minh. Vi vậy, việc lập và thường xuyên củng cố hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.
Hồ sơ vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra là tập hợp hệ thống các văn bản, tài liệu được thu thập hoặc lập từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc điều tra và được đóng dấu bút lục và sắp xếp theo một trình tự nhất định, nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài. Khi đã có đầy đủ chứng cứ để xác định chính xác tội phạm và cong người thực hiện hành vi phạm tội (bị can) thì CQĐT có nhiệm vụ làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Căn cứ vào bản kết luận điều tra, VKS chỉ ra bản cáo trạng truy tố bị can về các tội phạm đã được điều tra và có đủ chứng cứ chứng minh. Những tội phạm và bị can chưa được điều tra sẽ không bị truy tố. Do vậy, đi đôi với việc thu thập chứng cứ để làm rõ vụ án, CQĐT phải thường xuyên chủ động và tích cực hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định của pháp luật TTHS.
3.2.4 Thông qua hoạt động điều tra tội phạm, CQĐT phát hiện những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm
để trên cơ sở đó yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa tội phạm.
Trong điều tra vụ án hình sự, một trong những nhiệm vụ không kém phần quan trọng là xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có biện pháp phòng ngừa tội phạm. Thực hiện nhiệm vụ này, đối với mỗi tội phạm, cơ quan tiến hành điều tra vụ án phải tìm ra nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy việc thực hiện tội phạm. Nếu tội phạm phát sinh do thiếu sót của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
3.2.5 Thông qua công tác điều tra tội phạm, CQĐT tội phạm góp phần vào việc giáo dục công dân
có ý thức chấp hành PL và các quy tắc của cuộc sống XHCN
Để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra đó, CQĐT phải tiến hành hàng loạt các hoạt động và hành vi điều tra. Và chất lượng hoạt động điều tra của CQĐT vụ án hình sự mang tính quyết định và chi phối sâu sắc đến toàn bộ quá trình xử lý vụ án. Giai đoạn điều tra nhanh chóng, chuẩn xác thì việc truy tố và xét xử sẽ nhanh chóng và đạt chất lượng cao. Ngược lại, giai đoạn điều tra kéo dài, kết quả điều tra không chính xác thì sẽ dẫn đến những ảnh hưởng xấu, thậm chí là sai lầm của việc xử lý vụ án ở các giai đoạn tiếp theo.
Về bản chất, hoạt động điều tra chính là quá trình chủ thể tiến hành điều tra (cán bộ điều tra) nhận thức về thực tế khách quan của sự việc phạm tội. Bởi vậy, xét đến cùng thì mục đích của giai đoạn điều tra có đạt được hay không, bên cạnh những yếu tố cơ sở là tính khả thi của hệ thống pháp luật, chính là phụ thuộc vào việc tổ chức, nhận thức, thái độ và khả năng của ĐTV được giao thụ lý điều tra vụ án. Vì vậy, việc hoàn thiện các khâu tổ chức CQĐT, phân công nội bộ, xác định rõ thẩm quyền điều tra của cơ quan và từng cán bộ điều tra là những yếu tố đóng vai trò quyết định sự thành bại đối với cả giai đoạn điều tra.
Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự không chỉ thuộc về các CQĐT “chuyên trách”, mà thẩm quyền đó còn thuộc về một số cơ quan, đơn vị tuy không phải là CQĐT, nhưng vẫn được pháp luật giao quyền tiến hành các hoạt động điều tra hình sự nhất định. Mặt khác, việc xác định thẩm quyền điều tra vụ án hình sự không chỉ theo sự phân định theo "chiều ngang", tức là giữa các CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ở các ngành khác nhau hoặc ở cùng một cấp; mà còn là sự phân định theo "chiều dọc", tức là sự phân cấp thẩm quyền điều tra giữa cấp trên và cấp dưới trong cùng một hệ CQĐT hoặc cùng một ngành.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự của CQCSĐT trong CAND như sau: "Thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự của CQCSĐT trong CAND là quyền tiến hành hoạt động điều tra các vụ án hình sự của CQCSĐT. Thẩm quyền này được phân công, phân cấp căn cứ vào tính chuyên nghiệp và lĩnh vực điều tra cũng như cấp điều tra trong CAND”
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê