- 1. Khái niệm biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
- 2. Nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
- 3. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú trong vòng bao lâu?
- 4. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có được đi làm nơi khác không?
- 5. Người có thẩm quyền ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo
1. Khái niệm biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Cấm đi khỏi nơi cư trú là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1 Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 định nghĩa biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, cụ thể như sau: "Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo Giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án".
Theo khái niệm trên thì có thể thấy biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là một biện pháp được đưa ra để nhằm mục đích ngăn chặn những người thực hiện các hành vi phạm tội tiếp tục thực hiện các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và một phần cũng là một trong những biện pháp để đảm bảo cho quá trình điều tra, xét xử một vụ án hình sự, tránh trường hợp những đối tượng phạm tội gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.
Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thường được các Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng là biện pháp thay thế cho biện pháp tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự, đây là một biện pháp ngăn chặn được cho là ít nghiêm khắc hơn so với biện pháp tạm giam. Khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này bị can, bị cáo sẽ chỉ bị hạn chế quyền tự do đi lại của mình và quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, nơi ở trong một thời gian nhất định chứ biện pháp này lại không cách ly hoàn toàn bị can, bị cáo ra khỏi xã hội giống như biện pháp tạm giam.
Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng trong các trường hợp dưới đây:
- Bị can, bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội lần đầu và người phạm tội phải xác định được nơi cư trú rõ ràng. Trong quá trình phối hợp cùng các Cơ quan tiến hành tố tụng làm việc bị can, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có bất cứ một biểu hiện nào thể hiện có hành vi ngăn cản các Cơ quan tiến hành tố tụng làm việc;
- Khi các Cơ quan tiến hành tố tụng áo dụng biện pháp ngăn chặn này với bị can, bị cáo thì phải yêu cầu bị can, bị cáo lập giấy cam đoan với nội dung: Bị can, bị cáo cam đoan sẽ không đi khỏi nơi cư trú trong thời gian các Cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án và phải có mặt theo Giấy triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng.
2. Nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, cụ thể như sau:
- Bị can, bị cáo phải cam đoan không được phép tự ý rời khỏi nơi cư trú trong thời gian chấp hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Nếu trong những trường hợp đặc biệt, vì lý do bất khả kháng mà bị can, bị cáo muốn rời khỏi nơi cư trú thì phải xin phép và được sự đồng ý của cơ quan quản lý có thẩm quyền;
- Phải đảm bảo có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng (trừ một số trường hợp được xác định là có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan);
- Người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ không được bỏ trốn hoặc tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội của mình;
- Bị can, bị cáo phải có trách nhiệm khai báo và cung cấp thông tin đúng sự thật cho cơ quan tiến hành tố tụng. Không được thực hiện các hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục những người có liên quan, người làm chứng khai báo thông tin gian dối, cung cấp các tài liệu sai sự thật cho cơ quan tiến hành tố tụng; không được thực hiện các hành vi tiêu hủy, giả mạo các loại chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, không được phép tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không được thực hiện các hành vi đe dọa, thực hiện các hành vi khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm.
Khi bị can, bị cáo vi phạm những nghĩa vụ đã được nêu ở trên thì các Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ.
3. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú trong vòng bao lâu?
Theo Khoản 4 Điều 123 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú thì sẽ không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với những người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù, cụ thể được xác định như sau:
- Đối với giai đoạn điều tra: Thời hạn điều tra được quy định tại Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn điều tra sẽ do Cơ quan điều tra quyết định, cụ thể:
+ Đối với những vụ án là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, cụ thể:
- Đối với loại tội phạm nghiêm trọng thì thời hạn điều tra là không quá 03 tháng, và có thể gia hạn thêm 2 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng, lần thứ hai không quá 02 tháng;
- Đối với loại tội phạm rất nghiêm trọng thì thời hạn điều tra là không quá 04 tháng, và có thể gia hạn thêm 2 lần mỗi lần không quá 04 tháng;
- Đối với loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn điều tra là không quá 04 tháng và có thể gia hạn thêm 5 lần mỗi lần không quá 04 tháng.
+ Đối với những vụ án là các tội không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia thì thời hạn điều tra được xác định cụ thể như sau:
- Đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra là không quá 02 tháng và được gia hạn thêm 1 lần không quá 02 tháng;
- Đối với loại tội phạm nghiêm trọng thì thời hạn điều tra không quá 03 tháng và được gia hạn thêm 2 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ 2 không quá 02 tháng;
- Đối với loại tội phạm rất nghiêm trọng thì thời hạn điều tra không quá 04 tháng và được gia hạn thêm 2 lần mỗi lần gia hạn không quá 04 tháng;
- Đối với loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn điều tra không quá 4 tháng và được gia hạn thêm 4 lần mỗi lần gia hạn không quá 04 tháng.
- Đối với giai đoạn truy tố: Thời hạn do Viện kiểm sát quyết định theo quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Đối với giai đoạn xét xử: Thời hạn do Tòa án quyết định theo quy định tại Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 với thời hạn cụ thể như sau:
- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày và có thể gia hạn thời gian không quá 15 đối với những vụ án có tình tiết phức tạp;
- Đối với tội phạm nghiêm trọng thời hạn chuẩn bị xét xử là 45 ngày và có thể gian hạn thời gian không quá 15 ngày đối với những vụ án có tình tiết phức tạp;
- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng và có thể gia hạn thời gian không quá 30 ngày đối với những vụ án có tình tiết phức tạp. Việc gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử này phải được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp;
- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 03 tháng và có thể gia hạn thời gian không quá 30 ngàu đối với những vụ án có tình tiết phức tạp. Việc gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử này phải được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có được đi làm nơi khác không?
Sau khi cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú với bị can, bị cáo thì phải có trách nhiệm thông báo về việc áp dụng biện pháp này với Ủy ban nhân dân xã/phường/thị trấn nơi bị can, bị cáo hiện đang cư trú, báo đến đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và thực hiện việc giao bị can, bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã/phường/thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú hoặc đơn vị quân đội nơi đang quản lý bị can, bị cáo để các cơ quan này quản lý và theo dõi bị can, bị cáo. Đơn vị được giao quản lý bị can, bị cáo sẽ phải có trách nhiệm quản lý, theo dõi bị can, bị cáo và Khoản 5 Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có quy định như sau:
Theo nội dung đã được nêu ở trên thì người đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì sẽ không được quyền tự ý đi khỏi nơi cư trú trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó nếu trường hợp người đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú muốn đi làm ở ngoài địa phương nơi cư trú hiện tại thì phải thông báo lên Ủy ban nhân dân xã/phường thị trấn hoặc cơ quan quản lý và được sự đồng ý cho phép của người ra quyết định cho phép đi thì mới có thể đi làm ở nơi khác ngoài nơi cư trú hiện tại. Còn đối với trường hợp nơi làm việc của bị can, bị cáo tại địa phương nơi bị can, bị cáo hiện đang cư trú thì bị can, bị cáo vẫn được quyền tiếp tục đi làm việc, trừ trường hợp công ty có yêu cầu khác.
5. Người có thẩm quyền ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo
Khoản 3 Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thẩm quyền ra Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú, cụ thể những người sau đây sẽ có quyền ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú với bị can, bị cáo:
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp;
- Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
- Chánh án, Phó Chánh án của Tòa án nhân dân các cấp và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp;
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa;
- Đồn trưởng Đồn biên phòng.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp Quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc gì thêm Quý khách hàng có thể vui lòng liên hệ với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài, gọi ngay số: 1900.6162 để được hỗ trợ trực tiếp. Rất mong nhận được sự hợp tác từ Quý khách hàng, chúng tôi xin chân thành cảm ơn!