- 1. Công chức, viên chức là gì?
- 1.1 Công chức là gì?
- 1.2 Viên chức là gì?
- 2. Công chức, viên chức có được góp vốn vào doanh nghiệp không?
- 3. Công chức, viên chức có được tham gia, quản lý doanh nghiệp không?
- 4. Công chức, viên chức góp vốn vào doanh nghiệp bị phạt như thế nào?
- 5. Câu hỏi thường gặp
- 5.1. Công chức có được đứng tên cổ đông không?
- 5.2. Có được nhờ người khác đứng tên công ty không?
- 5.3. Công chức, viên chức có làm giám đốc được không?
- Kết luận
Hiện nay, việc công chức, viên chức tham gia đầu tư, góp vốn vào doanh nghiệp là vấn đề được nhiều người quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu kinh doanh và đầu tư ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của hoạt động công vụ, pháp luật có những quy định riêng nhằm bảo đảm tính minh bạch, tránh xung đột lợi ích và hạn chế việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phục vụ mục đích cá nhân. Vì vậy, không phải mọi trường hợp công chức, viên chức đều được tự do tham gia góp vốn hoặc quản lý doanh nghiệp như cá nhân thông thường.
1. Công chức, viên chức là gì?
1.1 Công chức là gì?
Theo Điều 1 Luật Cán bộ, công chức 2025, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và một số cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang theo quy định của pháp luật. Công chức làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Từ quy định trên có thể thấy, công chức là lực lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tham gia tổ chức và vận hành bộ máy hành chính, chính trị của quốc gia. Việc tuyển dụng công chức phải thông qua vị trí việc làm và đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn do pháp luật quy định. Điều này thể hiện tính đặc thù của chế độ công vụ, bảo đảm người được tuyển dụng có đủ năng lực chuyên môn và phẩm chất để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Phạm vi công chức theo quy định hiện hành khá rộng, không chỉ bao gồm người làm việc trong cơ quan nhà nước mà còn bao gồm những người công tác trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội từ trung ương đến cấp xã. Ngoài ra, một số người làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân hoặc tổ chức cơ yếu cũng được xác định là công chức nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định và không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp hoặc lực lượng chuyên trách khác.
Một trong những đặc điểm quan trọng của công chức là làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Điều này cho thấy công chức thực hiện nhiệm vụ công vụ mang tính ổn định, lâu dài và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước về tuyển dụng, sử dụng, kỷ luật cũng như trách nhiệm trong quá trình thi hành công vụ. Vì giữ vai trò trực tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nên công chức cũng bị áp dụng nhiều quy định chặt chẽ liên quan đến đạo đức công vụ, trách nhiệm nghề nghiệp và các hạn chế trong hoạt động kinh doanh nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ.
1.2 Viên chức là gì?
Theo Điều 2 Luật Viên chức 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Từ quy định trên có thể hiểu, viên chức là lực lượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập như bệnh viện công lập, trường học công lập, trung tâm nghiên cứu, đơn vị văn hóa, thể thao và các tổ chức cung cấp dịch vụ công khác. Khác với công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, viên chức chủ yếu thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ nhằm cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội.
Một trong những đặc điểm quan trọng của viên chức là được tuyển dụng theo vị trí việc làm và làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc. Điều này thể hiện mối quan hệ lao động mang tính nghề nghiệp giữa viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời gắn trách nhiệm, quyền hạn của viên chức với vị trí chuyên môn cụ thể mà họ đảm nhiệm.
Ngoài ra, tiền lương của viên chức được chi trả từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định pháp luật. Trong quá trình công tác, viên chức phải tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ và các quy định hạn chế liên quan đến hoạt động kinh doanh nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong hoạt động nghề nghiệp và cung cấp dịch vụ công.
2. Công chức, viên chức có được góp vốn vào doanh nghiệp không?
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi, bổ sung 2025 thì tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào doanh nghiệp, trừ các trường hợp bị hạn chế sau đây:
“Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Luật Phòng, chống tham nhũng, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.”
Đối với viên chức, pháp luật hiện hành quy định viên chức không được tham gia góp vốn, kinh doanh trong những lĩnh vực thuộc phạm vi mình trực tiếp quản lý nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm tính khách quan trong hoạt động công vụ. Vì vậy, trên thực tế, việc góp vốn của công chức, viên chức bị hạn chế rất chặt chẽ và trong nhiều trường hợp được xem là thuộc nhóm đối tượng không được góp vốn theo quy định pháp luật chuyên ngành.
Tuy nhiên, quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn ghi nhận ngoại lệ “trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Điều này có nghĩa là trong một số trường hợp đặc thù liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu hoặc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, công chức, viên chức có thể được phép tham gia góp vốn hoặc tham gia doanh nghiệp theo cơ chế riêng do pháp luật chuyên ngành cho phép. Đây là ngoại lệ được đặt ra nhằm khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay.
3. Công chức, viên chức có được tham gia, quản lý doanh nghiệp không?
Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định như sau:
“Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.”
Theo đó, pháp luật hạn chế cán bộ, công chức, viên chức tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong quá trình thực thi công vụ, đồng thời phòng ngừa việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phục vụ lợi ích cá nhân. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức thuộc nhóm đối tượng không có quyền thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành.
Việc “không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp” được hiểu là các đối tượng này không được đứng tên thành lập doanh nghiệp, không được giữ các chức danh quản lý như chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc hoặc các chức vụ quản lý, điều hành khác trong doanh nghiệp. Quy định này nhằm bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức tập trung thực hiện nhiệm vụ được giao, tránh phát sinh xung đột lợi ích giữa hoạt động công vụ và hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, pháp luật cũng ghi nhận ngoại lệ “trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Đây là cơ chế đặc thù cho phép một số cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo có thể tham gia thành lập, quản lý hoặc góp vốn vào doanh nghiệp để phục vụ hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, thương mại hóa sản phẩm khoa học hoặc thúc đẩy chuyển đổi số. Ngoại lệ này được đặt ra nhằm khuyến khích việc ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn, tạo điều kiện phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học.
Như vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, cán bộ, công chức, viên chức về nguyên tắc không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, trừ những trường hợp đặc biệt được pháp luật chuyên ngành về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho phép.
4. Công chức, viên chức góp vốn vào doanh nghiệp bị phạt như thế nào?
Về xử lý kỷ luật, theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010, công chức, viên chức không được thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Nếu vi phạm (ví dụ: đứng tên giám đốc, tham gia điều hành thực tế, hoặc “núp bóng” để quản lý doanh nghiệp), thì tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị áp dụng các hình thức kỷ luật như:
| Viên chức | Cán bộ | Công chức |
|
|
|
Các hình thức này được quy định chi tiết tại các văn bản về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là Nghị định 112/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 172/2025/NĐ-CP).
Về vi phạm quy định phòng, chống tham nhũng, theo Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, người có chức vụ, quyền hạn (bao gồm công chức, viên chức) không được để xảy ra xung đột lợi ích, cụ thể là không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực do mình trực tiếp quản lý nhà nước. Nếu vi phạm, ngoài kỷ luật, còn có thể bị áp dụng các biện pháp như: buộc chấm dứt hành vi vi phạm, thoái vốn, chuyển nhượng phần vốn góp; đồng thời phải chịu trách nhiệm về việc không kê khai hoặc kê khai không trung thực tài sản, thu nhập.
Trong trường hợp hành vi góp vốn gắn với việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, cá nhân vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015. Các tội danh có thể áp dụng bao gồm: tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356), tội nhận hối lộ (Điều 354), hoặc các tội danh liên quan đến tham nhũng khác nếu có yếu tố cấu thành. Khi đó, ngoài hình phạt chính (phạt tù), người vi phạm còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, tịch thu tài sản hoặc buộc hoàn trả lợi ích bất hợp pháp.
5. Câu hỏi thường gặp
5.1. Công chức có được đứng tên cổ đông không?
Căn cứ Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích: "Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần." Để có cổ phần, cá nhân/tổ chức phải góp vốn vào công ty (bằng tiền, tài sản, quyền tài sản…).
Điểm b khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2020 sửa đổi bởi Điểm c Khoản 6 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 quy định Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Luật Phòng, chống tham nhũng, trừ một số trường hợp luật định.
Vì vậy, khi công chức không được phép góp vốn đồng nghĩa với việc công chức không được đứng tên cổ đông.
5.2. Có được nhờ người khác đứng tên công ty không?
Không. Việc nhờ người khác đứng tên (đứng hộ, “núp bóng”) để lách quy định bị xem là hành vi che giấu lợi ích, vi phạm quy định về minh bạch tài sản và xung đột lợi ích theo Luật Phòng, chống tham nhũng 2018.
Có thể bị kỷ luật, buộc thoái vốn, thậm chí bị xử lý hình sự nếu có yếu tố trục lợi theo Bộ luật Hình sự 2015.
5.3. Công chức, viên chức có làm giám đốc được không?
Không. Cả công chức và viên chức đều không được giữ chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, bao gồm: giám đốc, tổng giám đốc, thành viên HĐQT, người đại diện theo pháp luật… theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010.
Kết luận
Từ các quy định pháp luật hiện hành có thể thấy rằng công chức, viên chức không được góp vốn vào doanh nghiệp. Để tránh rủi ro pháp lý và các hình thức xử lý kỷ luật, mỗi cá nhân cần nhận thức đúng giới hạn pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai tài sản, đồng thời tuyệt đối không lợi dụng vị trí công tác để phục vụ lợi ích riêng. Trong trường hợp có nhu cầu đầu tư, việc tham khảo ý kiến tư vấn pháp lý chuyên sâu là cần thiết để bảo đảm tuân thủ đúng quy định và bảo vệ an toàn pháp lý lâu dài.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.