1. Cán bộ xã nhờ người giả chữ ký để nhận tiền hỗ trợ Covid có bị đi tù không?
Mới đây ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại một địa phương đã có quyết định khởi tố cán bộ xã có hành vi về tội Tham ô tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015. Thực tế có nhiều trường hợp cán bộ xã sẽ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, lợi dụng trách nhiệm của mình là nhận tiền trợ cấp từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phát cho người dân nhưng lại không phát và tự ý nhờ người khác giả mạo chữ ký của người dân để trục lợi số tiền trợ cấp.
Khi hành vi bị phát giác, cán bộ xã đã lấp liếm với lý do sợ rằng hết thời gian nhận trợ cấp mà chưa có người dân nào lên xã nhận sẽ khiến số tiền trợ cấp bị thu hồi, không đảm bảo được quyền lợi cho nhân dân. Vì vậy cán bộ xã chỉ đứng ra để "nhận hộ" rồi sẽ đưa lại ngay cho người dân. Nhưng theo ý kiến phản ánh của các hộ dân thuộc địa bàn xã quản lý, thì người dân đã nhiều lần lên xã hỏi về trợ cấp nhưng đều không nhận được thông tin gì từ ban quản lý cấp xã.
Vì vậy hành vi của cán bộ xã ở đây hoàn toàn có thể bị kỷ luật vì không làm theo đúng thủ tục tài chính, không làm theo đúng trách nhiệm của một người cán bộ xã. Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra nếu xét thấy có dấu hiệu tội phạm thì cán bộ xã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội Tham ô tài sản cho hành vi của mình gây ra.
Theo đó, đối với Tội Tham ô tài sản được quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người cán bộ xã có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng. Nếu như đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015 mà chưa được xoá án tích, còn vi phạm thì không cần biết số tiền vi phạm ở đây là bao nhiêu, cán bộ xã vẫn sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Như vậy có thể thấy việc kết tội cán bộ xã thuộc khung hình phạt nào của loại tội này sẽ căn cứ vào trị giá tài sản chiếm đoạt hoặc mức độ gây thiệt hại, hậu quả thiệt hại từ hành vi của cán bộ xã gây ra. Bên cạnh đó cán bộ xã còn bị câm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần tài sản hoặc toàn bộ tài sản.
2. Người nhận giả chữ ký có bị xử lý hình sự không?
Cán bộ xã có hành vi nhờ người giả chữ ký tì tuỳ theo từng dấu hiệu có thể bị xử lý hình sự theo như đã phân tích tại mục 2 của bài viết. Vậy trong trường hợp này, người nhận đi giả chữ ký của người dân có bị xử lý hình sự hay không?
Theo quy định của pháp luật, việc gải mạo chữ ký của người khác là trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên hành vi giả mạo chữ ký ở đây có bị kết án hình sự hay không thì cần căn cứ vào mục đích của việc giả mạo chữ ký và người bị giả mạo ở đây là ai. Bởi tại Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các tội liên quan đến vấn đề giả mạo chữ ký sẽ có Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác; Tội giả mạo trong công tác.
Ngoài ra người nhận giả mạo chữ ký có thể bị coi là đồng phạm nếu như thông qua kết quả điều tra cho thấy người nhận giả mạo chữ ký biết rõ về hành vi phạm tội cũng như mục đích, động cơ của cán bộ xã mà vẫn đồng ý thực hiện theo.
3. Quy định về khách thể bị xâm hại trong xử lý vụ án tham ô tài sản
Thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các vụ án tham ô tài sản xảy ra trong thời gian qua cho thấy có nhiều sai sót trong quá trình giải quyết, xử lý vụ án dẫn đến tình trạng nhiều vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc không đủ căn cứ để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công tác phòng, chống tội phạm này.
Đối với Tội tham ô tài sản, dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm có yếu tố quan trọng để xác định hành vi phạm tội cũng như để phân biệt với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác, cụ thể người phạm tội tham ô tài sản phải là người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Tuy nhiên, trong một số vụ việc cụ thể, các cơ quan tiến hành tố tụng nhận định chưa đúng về khách thể bị xâm hại, dễ dẫn đến xảy ra oan sai hay bỏ lọt tội phạm.
Ví dụ vụ việc thủ quỹ lấy tiền trong két sắt của cơ quan đem gửi tiết kiệm mang tên mình hoặc tên người khác, lãi suất từ khoản tiền gửi tiết kiệm này đối tượng thủ quỹ sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân. Khi bị cơ quan phát hiện, đối tượng chủ động đến ngân hàng rút tiền và hoàn trả lại cho cơ quan.
Đây là vụ việc xảy ra rất nhiều trong thực tiễn, và đối với những vụ việc như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối tượng phạm tội tham ô tài sản quy định tại Điều 353 BLHS năm 2015 vì đã có hành vi lợi dụng quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, đơn vị mình công tác đối với việc quản lý, sử dụng tài sản và quan hệ sở hữu tài sản. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, đối tượng phạm tội sử dụng trái phép tài sản quy định tại Điều 177 BLHS năm 2015 vì đối tượng chỉ chiếm hữu và xâm phạm đến quyền sử dụng tài sản, nhưng không xâm phạm đến quyền định đoạt tài sản.
Ở đây, việc áp dụng quan điểm thứ hai là phù hợp vì trong vụ việc này, đối tượng thủ quỹ chỉ có ý định khai thác lợi ích của tài sản chứ không có ý định chiếm đoạt tài sản. Quyền sử dụng tài sản được hướng đến nhiều hơn là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đối với việc quản lý, sử dụng tài sản. Nếu như chứng minh được ý định chiếm đoạt tài sản còn hành vi sử dụng trái phép tài sản chỉ là phương thức, thủ đoạn để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản mà mình được giao quản lý thì mới có thể xem xét đối tượng có phạm tội tham ô tài sản hay không.
Đối với những vụ việc tương tự trường hợp thủ quỹ lấy tiền trong két sắt của cơ quan đem gửi tiết kiệm mang tên mình hoặc tên người khác. Cần phải nhận thức rõ khách thể mà tội phạm đang hướng đến là gì, quyền sử dụng tài sản để khai thác lợi ích tài sản một cách trái phép hay là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đối với việc quản lý, sử dụng tài sản. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà việc chiếm hữu tài sản của đối tượng có thể được thực hiện một cách công khai hợp pháp, nhưng cũng có thể được thực hiện một cách lén lút, trái phép. Nếu như vụ việc đơn thuần đối tượng chỉ chiếm hữu tài sản để khai thác lợi ích tài sản một cách trái phép nhưng không xâm phạm đến quyền định đoạt tài sản và không có ý định chiếm đoạt tài sản thì hành vi sai phạm cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản. Còn nếu chứng minh được đối tượng có ý định chiếm đoạt tài sản, và hành vi sử dụng trái phép tài sản ở đây là một khâu trong chuỗi những hành vi khách quan mà đối tượng sử dụng nhằm mục đích chiếm đoạt được tài sản mà mình được giao quản lý thì có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản.
Tham khảo: Giả mạo chữ ký của người bình thường bị xử lý như thế nào?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Cán bộ xã nhờ người giả chữ ký nhận tiền covid - 19 bị xử lý hình sự thế nào? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc!
Nếu quý khách có nhu cầu muốn báo phí dịch vụ, quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!