1. Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế

Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều có mối quan hệ với các quốc gia khác, đặc biệt là mối quan hệ kinh tế. Các quan hệ này làm nảy sinh các dòng tiền giữa các nền kinh tế. Các dòng tiền này được theo dõi, ghi chép một cách có hệ thống trong báo cáo tổng họp, gọi là cán cân thanh toán quốc tế (the Balance of Payments - BOP).

Cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo tổng hợp ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kì nhất định.

Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các đối tượng cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Trong đó, đối tượng cư trú của một quốc gia là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp thường trú lâu dài ở một nước và chịu sự kiểm soát của pháp luật nước đó. Thông thường, người cư trú từ 01 năm trở lên được coi là lâu dài, song độ dài thời gian này cũng còn tùy thuộc vào từng quốc gia. Ở Việt Nam, cá nhân cư trú là người có noi ở thường xuyên tại Việt Nam hoặc có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, hoặc có nơi ở thường xuyên ở Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng kí thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.

 

2. Nội dung của cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế thông thường bao gồm các bộ phận sau đây:

-     Cán cân vãng lai (Currency Account - CA)

-     Cán cân vốn (Capital Account - KA)

-     Cán cân tổng thể (OB)

-     Cán cân bù đắp chính thức (OFB)

-     Khoản mục lỗi và sai sót (OM).

 

Bảng cán cân thanh toán quốc tế

Đơn vị: triệu USD

Kí hiệu

Nội dung

Doanh số thu (+)

Doanh số chi (-)

Cán cân (ròng)

CA

Cán cân vãng lai

+ 1.500

-1.690

-190

TB

Cán cân thương mại

 

 

-130

 

- Xuất khẩu hàng hóa

+ 600

 

 

 

- Nhập khẩu hàng hóa

 

-730

 

SB

Cán cân dịch vụ

 

 

 

 

- Xuất khẩu dịch vụ

+ 400

 

+ 50

 

- Nhập khẩu dịch vụ

 

-350

 

IB

Cán cân thu nhập

 

 

 

 

-Thu

+ 280

 

-80

 

-Chi

 

-360

 

TrB

Chuyển giao vãng lai 1 chiều

 

 

 

 

-Thu

+ 220

 

-30

 

-Chi

 

-250

 

KA

Cán cân vốn

+ 960

-770

+ 150

Kl

Vốn dài hạn

 

 

 

 

- Dòng vào

+ 500

 

+ 110

 

- Dòng ra

 

-390

 

Ks

Vốn ngắn hạn

 

 

-20

 

- Dòng vào

+ 360

 

 

 

- Dòng ra

 

-380

 

Ktr

Chuyển giao vốn 1 chiều

+ 100

 

+ 100

OM

Lỗi và sai sót

+ 5

 

+ 5

OB

Cán cân tổng thể

 

 

-35

OFB

Cán cân bù đắp chính thức

+ 35

 

+ 35

AR

Thay đổi dự trữ

+ 20

 

+ 20

L

Vay IMF và các NHTWkhac

+ 10

 

+ 10

Ot

Các nguồn tài trợ khác

+ 5

 

+ 5

Tổng

 

+ 2.500

- 2.500

 

 

2.1 Cán cân vãng lai

Cán cân vãng lai (Current Account - CA) phản ánh các khoản thu và chi mang tính thu nhập. Bản chất của cán cân vãng lai phản ánh tình hình thu chi từ chuyển giao quyền sở hữu về tài sản giữa đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú.

Cán cân vãng lai bao gồm 4 cán cân bộ phận là:

-     Cán cân thương mại - Trade Balance (TB).

-     Cán cân dịch vụ - Services Balance (SB).

-     Cán cân thu nhập - Incomes Balance (IB).

-     Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều - Currency Transfers Balance (TrB).

Cán cân thương mại dùng để đối chiếu và so sánh các khoản thu từ xuất khẩu và chi cho nhập khẩu hàng hóa. Khi một quốc gia xuất khẩu hàng hóa sẽ thu về ngoại tệ, đây chính là khoản thu và được ghi có (+); các nghiệp vụ nhập khẩu làm phát sinh khoản chi và được ghi nợ (-). Khi thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa lớn hơn chi cho nhập khẩu hàng hóa thì cán cân thương mại được gọi là thặng dư (hay xuất siêu). Và ngược lại, khi thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa thấp hơn chi cho nhập khẩu hàng hóa thì cán cân thương mại thâm hụt (hay gọi là nhập siêu).

Cán cân dịch vụ phản ánh các khoản thu, chi phát sinh trong các giao dịch về dịch vụ như vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính, viễn thông... giữa đối tượng cư trú với đối tượng không cư trú. Hiện nay, cán cân dịch vụ của các nước có quy mô và tỉ trọng trong tổng giá trị cán cân thanh toán quốc tế ngày càng tăng.

Cán cân thu nhập phản ánh các khoản thu, chi phát sinh về thu nhập của người lao động và thu nhập từ hoạt động đầu tư. Trong đó, thu nhập của người lao động là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền, hiện vật mà đối tượng cư trú trả cho đối tượng không cư trú hoặc ngược lại. Thu nhập từ hoạt động đầu tư là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp, lãi từ đầu tư vào giấy tờ có giá hoặc các khoản vay giữa đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú.

Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng giữa đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú. Các khoản chuyển giao vãng lai 1 chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú. Các khoản nhận chuyển giao vãng lai, ghi dương (+); Các khoản cấp viện trợ, ghi âm (-). Quy mô và tình trạng cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố về môi trường kinh tế, tâm lý, tình cảm, chính trị-xã hội và ngoại giao giữa các nước.

 

2.2 Cán cân vốn

Cán cân vốn (Capital Account - KA) phản ánh toàn bộ chỉ tiêu giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú về chu chuyển vốn trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, chuyển giao vốn một chiều, các hình thức đầu tư khác làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ. Nói cách khác, cán cân vốn thể hiện các khoản thu, chi phát sinh trong quá trình chuyển giao quyền sử dụng tài sản giữa đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú.

Cán cân vốn bao gồm:

-    Cán cân vốn dài hạn (KL): Ghi chép các luồng vốn dài hạn (có kì hạn từ 01 năm trở lên) chảy vào và chảy ra khỏi một quốc gia, các luồng vốn dài hạn được chia thành đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và vốn dài hạn khác.

-    Cán cân vốn ngắn hạn (Ks): Ghi chép các luồng vốn ngắn hạn (có kì hạn đến 01 năm) chảy vào và chảy ra khỏi một quốc gia. Cán cân vốn ngắn hạn bao gồm nhiều hạng mục phong phú và chủ yếu là: tín dụng thương mại ngắn hạn, hoạt động tiền gửi, mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn, kinh doanh ngoại hối...

- Chuyển giao vốn một chiều (Ktr): gồm các khoản cho, tặng, viện trợ không hoàn lại và các khoản nợ được xóa.

Khi có luồng vốn chảy vào nền kinh tế, ghi dương (+), làm cho tài sản nợ tăng (vay nợ...) hoặc tài sản có giảm (đòi nợ...). Khi có luồng vốn chảy ra nền kinh tế, ghi âm (-) làm cho tài sản nợ giảm (trả nợ vay...) hoặc tài sản có tăng (cho vay...).

 

2.3 Cán cân tổng thể

Nếu ở mỗi quốc gia, việc thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (nhầm lẫn và sai sót bằng 0), thì cán cân tong the (Overall Balance - OB) bằng tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn, tức là:

OB = CA + KA

Thực tế, do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quá trình thu thập số liệu và lập BOP, do đó, thường phát sinh những nhầm lẫn và sai sót. Vì vậy, cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cân vãng lai, cán cân vốn và hạng mục nhầm lẫn sai sót trong thống kê là:

OB = CA + KA + OM

Hạng mục nhầm lẫn và sai sót thống kê bao gồm các giao dịch kinh tế thực tế đã xảy ra nhưng không được ghi chép hoặc có được ghi chép nhưng ghi chép đó có nhầm lẫn, không chính xác.

 

2.4 Cán cân bù đắp chính thức

Cán cân này phản ánh những thay đổi tài sản dự trữ chính thức do các giao dịch can thiệp của cơ quan chính phủ của một nước nhằm cân bằng tổng thể các giao dịch tư nhân và chính phủ. Các tài sản dự trữ bao gồm: vàng, quyền rút vốn đặc biệt (SDR), dự trữ trong IMF, ngoại tệ có khả năng chuyển đổi...

Thông thường, cán cân tổng thể của các quốc gia không ở trạng thái cân bằng, cán cân tổng thể có thể thặng dư (OB > 0) hoặc thâm hụt (OB < 0). Do vậy, cần được bù đắp bởi các tài sản dự trữ trên. Các hạng mục đó được gọi là cán cân bù đắp chính thức (Official Fanancing Balance - OFB).

Vì ngân hàng trung ương có chức năng can thiệp lên cung, cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, do đó, các hoạt động can thiệp của ngân hàng trung ương trên thị trường ngoại hối (mua bán nội tệ) nhằm tác động lên nền kinh tế, được xem là quan hệ giữa đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú.

Cụ thể, khi cán cân tổng thể bị thâm hụt (-), ngân hàng trung ương cần bù đắp chính thức bằng cách tăng cung ngoại tệ bằng cách bán ngoại tệ, OFB (+). Ngược lại, khi cán cân tổng thể thặng dư (+), ngân hàng trung ương cần bù đắp chính thức bằng cách tăng cầu ngoại tệ bằng cách mua ngoại tệ, OFB (-).

 

2.5 Khoản mục lỗi và sai sót (OM)

Do áp dụng nguyên tắc hạch toán kép, nên cán cân thanh toán quốc tế luôn được cân bằng. Tổng của cán cân tổng thể và cán cân bù đắp chính thức phải luôn bằng 0. Tức là:

OB + OFB = O-> OB = — OFB-»CA + KA + OM= — OFB

->OM = -(OFB + CA + KA)

Từ công thức OM ta thấy, số dư của hạng mục lỗi và sai sót chính là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn. Bởi vì, cán cân bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn luôn được xác định. Công thức trên được áp dụng để xác định số dư nhầm lẫn và sai sót khi lập cán cân thanh toán.

Trong thực tế, tùy theo nhu cầu mà mỗi quốc gia có thể cơ cấu lại cán cân thanh toán quốc tế cho phù hợp với mục đích sử dụng và mục đích phân tích riêng của mình.

Bảng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (quý II năm 2018)

Đơn vị: Triệu USD

Chỉ tiêu

 

Số liệu

A. Cán cân vãng lai

 

1.244

 

Hàng hóa: Xuất khẩu f.o.b

58.626

 

Hàng hóa: Nhập khẩu f.o.b

55.580

 

Hàng hóa (ròng)

3.046

 

Dịch vụ: Xuất khẩu

3.550

 

Dịch vụ: Nhập khẩu

4.500

 

Dịch vụ (ròng)

-950

 

Thu nhập đầu tư (thu nhập sơ cấp): Thu

377

 

Thu nhập đầu tư (thu nhập sơ cấp): Chi

3.325

 

Thu nhập đầu tư (thu nhập sơ cấp) (ròng)

-2.948

 

Chuyển giao vãng lai (thu nhập thứ cấp): Thu

2.696

 

Chuyển giao vãng lai (thu nhập thứ cấp): Chi

600

 

Chuyển giao vãng lai (thu nhập thứ cấp) (ròng)

2.096

B. Cán cân vốn

 

0

 

Cán cân vốn: Thu

0

 

Cán cân vốn: Chi

0

 

Tổng cán cân vãng lai và cán cân vốn

1.244

c. Cán cân tài chính

 

2.295

 

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Tài sản có

-123

 

Đầu tư trực tiếp vào Việt Nam: Tài sản nợ

3.630

 

Đầu tư trực tiếp (rồng)

3.507

 

Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài: Tài sản có

0

 

Đầu tư gián tiếp vào Việt Nam: Tài sản nợ

1.591

 

Đầu tư gián tiếp (ròng)

1.591

 

Đầu tư khác: Tài sản có

-4.520

 

Đầu tư khác: Tài sản nợ

1.717

 

Đầu tư khác (ròng)

-2.803

D. Lỗi và sai sót

 

-2.359

E. Cán cân tổng thể

 

1.180

F. Dự trữ và các hạng mục liên quan

 

-1.180

 

Tài sản dự trữ

-1.180

 

Tín dụng và vay nợ từ IMF

0

 

Tài trợ đặc biệt

0

Nguồn: https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/trang chu/tk

 

3. Phương pháp phản ánh các giao dịch quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia được ghi chép theo một nguyên tắc ghi nợ (Debit) và ghi có (Credit).

Một giao dịch được ghi vào bên ghi có (+) là các khoản sẽ thu được từ người nước ngoài của quốc gia biên soạn cán cân thanh toán (ví dụ gọi là nước A). Các giao dịch được ghi có vào cán cân thanh toán của nước A bao gồm xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ cho người nước ngoài, đầu tư mua trái phiếu do chính phủ của người nước ngoài. Như vậy, có thể hiểu các giao dịch ghi có sẽ làm tăng dòng tiền từ nước ngoài vào nước A.

Một giao dịch được ghi vào bên nợ (-) là các khoản mà nước A phải trả cho người nước ngoài. Các giao dịch này bao gồm nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của A, giao dịch mua cổ phiếu, trái phiếu của chính phủ, doanh nghiệp nước ngoài của các nhà đầu tư nước A. Như vậy, các giao dịch ghi nợ làm tăng dòng tiền đi ra khỏi nước A.

về nguyên tắc, cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia có thể được hạch toán, ghi chép bằng bất kì đồng tiền nào. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các quốc gia phát triển có đồng tiền tự do chuyển đổi, đồng tiền sử dụng trong cán cân thanh toán quốc te là đồng nội tệ. Còn đối với những quốc gia không có đồng tiền tự do chuyển đổi thường sử dụng một ngoại tệ được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế của quốc gia này. Ở Việt Nam, đồng tiền dùng để ghi chép và hạch toán là đồng USD.

 

4. Thặng dư và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế được lập theo nguyên tắc hạch toán kép nên tổng các bút toán ghi có đúng bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau. Điều này có nghĩa là, về tổng thể thì cán cân thanh toán quốc tế luôn được cân bằng, tuy nhiên, từng cán cân bộ phận không nhất thiết lúc nào cũng cân bằng. Do đó, khi nói đến cán cân thanh toán là thặng dư hay thâm hụt có nghĩa là nói đến thặng dư hay thâm hụt của một hay một nhóm các cán cân bộ phận nhất định trong cán cân thanh toán quốc tế.

 

4.1 Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại

Do giá trị trao đổi hàng hóa khá lớn nên thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại thường quyết định đến tình trạng của cán cân vãng lai.

Cán cân thương mại thặng dư (xuất siêu) khi (X - M) > 0.

Cán cân thương mại thâm hụt (nhập siêu) khi (X - M) < 0.

Như vậy, cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu về hàng hóa. Đe cân bằng cán cân thương mại, các biện pháp được áp dụng sẽ tác động vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua các hình thức thuế quan, hạn ngạch,... và tác động vào tâm lý tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu của công chúng.

 

4.2 Thặng dư và thâm hụt cán cân vãng lai

Trạng thái của cán cân vãng lai ảnh hưởng nhiều đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỉ giá hối đoái, lãi suất... Do vậy, trong phân tích kinh tế vĩ mô, các nhà kinh tế thường rất quan tâm đến tính trạng thái của cán cân thanh toán vãng lai.

Cán cân vãng lai thặng dư cho thấy thu nhập của đối tượng cư trú cao hơn thu nhập của đối tượng không cư trú. Cán cân vãng lai thặng dư thể hiện trạng thái tài sản có ròng của quốc gia đó tăng lên và quốc gia đó đang cho nước ngoài vay nợ.

Ngược lại, cán cân vãng lai thâm hụt cho thấy thu nhập của đối tượng cư trú thấp hơn thu nhập của đói tượng không cư trú, quốc gia đó có tài sản nợ ròng tăng, quốc gia đó đang vay nợ nước ngoài.

Đe cải thiện cán cân vãng lai, các quốc gia cần thực hiện các giải pháp mang tính chiến lược như tăng năng lực xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Đồng thời, cần thực hiện các chính sách nhằm thu hút kiều hối, khách du lịch, xuất khẩu lao động ra nước ngoài nhằm thu hút ngoại tệ.

 

4.3 Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể

Cán cân tổng thể thặng dư khi OB = CA + KA > 0, có nghĩa là quốc gia hoàn toàn có thể tăng dự trữ ngoại hối. Ngược lại, nếu cán cân tổng thể bị thâm hụt OB = CA + KA < 0, quốc gia đó buộc phải tài trợ thâm hụt bằng cách giảm dự trữ ngoại hối, vay IMF hoặc vay các ngân hàng trung ương theo các hợp đồng song phương; Các nghiệp vụ khác làm tăng tài sản nợ ngoại tệ.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)