Nội dung phân tích

1. Cấn trừ tiền đặt cọc có được coi là có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt không?

Câu hỏi:  Chào công ty Luật Minh Khuê Công ty tôi có dùng dịch vụ của công ty B với giá trị dịch vụ là 40 triệu. Công ty tôi đã đặt cọc trước 10 triệu bằng tiền mặt, đến khi thanh toán, công ty tôi chỉ thanh toán qua ngân hàng cho công ty B 30 triệu, và 10 triệu bù trừ từ tiền đặt cọc sang. Vậy việc thanh toán này của công ty tôi có được coi việc bù trừ đó là chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế GTGT đầu vào không? Xin cảm ơn !

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Về trường hợp của công ty bạn pháp luật quy định như sau: Căn cứ thông tư 26/2015/TT-BTC thì điều kiện để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm có: Hóa đơn GTGT hợp pháp và chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với trường hợp có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từ 20 triệu đồng trở lên.

1.1 Các khoản chi phí được trừ khi xác nhập thu nhập chịu thuế

Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều 6 thông tư 78/2014/TT-BTC thì doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

- Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

- Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán và chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp khi thanh toán doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính có phát sinh khoản chi phí này).

Đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ đã thanh toán bằng tiền mặt phát sinh trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành thì không phải điều chỉnh lại theo quy định tại Điểm này.

1.2 Trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba (3) bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ người mua chi hộ.

- Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Căn cứ theo hướng dẫn trên, có 2 trường hợp bù trừ công nợ được coi là thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm:

- Thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, hàng hóa, dịch vụ vay mượn

- Thanh toán bù trừ công nợ như vay, mượn tiền hoặc cấn trừ công nợ qua bên thứ ba.

- Hai trường hợp bù trừ trên không bao gồm khoản bù trừ từ tiền đặt cọc bằng tiền mặt sang.

Trong trường hợp của công ty bạn thì khoản tiền đặt cọc 10 triệu bằng tiền mặt đó không được coi là thanh toán không dùng tiền mặt. Người nộp thuế cần thanh toán đủ số tiền 40 triệu qua ngân hàng, còn số tiền đặt cọc bên mua thu hồi lại theo thỏa thuận của hai bên.

2. Thuế suất của hoạt động phát hành báo

Câu hỏi: Chào công ty Luật Minh Khuê tôi hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội trong quá trình làm việc có một số vấn đề tôi chưa hiểu mong được công ty Luật giải thích giúp tôi. Hiện nay, các sản phẩm báo chí, sách ảnh cụ thể nào khi xuất bản, nhập khẩu, phát hành không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT ? Và luật hay nghị định nào quy định về vấn đề này ?

Khoản 15 Điều 4 thông tư 219/2013/TT-BTC quy định về các trường hợp thuộc đối tượng không chịu thuế như sau:

- Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa học-kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử; tiền, in tiền.

- Báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, bao gồm cả hoạt động truyền trang báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành.

- Sách chính trị là sách tuyên truyền đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị theo chuyên đề, chủ đề, phục vụ các ngày kỷ niệm, ngày truyền thống của các tổ chức, các cấp, các ngành, địa phương; các loại sách thống kê, tuyên truyền phong trào người tốt việc tốt; sách in các bài phát biểu, nghiên cứu lý luận của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

- Sách giáo khoa là sách dùng để giảng dạy và học tập trong tất cả các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông (bao gồm cả sách tham khảo dùng cho giáo viên và học sinh phù hợp với nội dung chương trình giáo dục).

- Giáo trình là sách dùng để giảng dạy và học tập trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

- Sách văn bản pháp luật là sách in các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

- Sách khoa học-kỹ thuật là sách dùng để giới thiệu, hướng dẫn những kiến thức khoa học, kỹ thuật có quan hệ trực tiếp đến sản xuất và các ngành khoa học, kỹ thuật.

- Sách in bằng chữ dân tộc thiểu số bao gồm cả sách in song ngữ chữ phổ thông và chữ dân tộc thiểu số.

- Tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động là tranh, ảnh, áp phích, các loại tờ rơi, tờ gấp phục vụ cho mục đích tuyên truyền, cổ động, khẩu hiệu, ảnh lãnh tụ, Đảng kỳ, Quốc kỳ, Đoàn kỳ, Đội kỳ.

Căn cứ theo quy định trên, thì phát hành báo thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

3. Sai tên khi đăng ký mã số thuế cá nhân thì giải quyết thế nào?

Câu hỏi : Chào công ty Luật Minh Khuê em mới đi làm lần đầu tại 1 công ty và được công ty yêu cầu bổ sung hồ sơ thông tin để được cấp Mã số thuế cá nhân. Thông tin em cung cấp cho công ty thì hoàn toàn đúng nhưng khi em kiểm tra MST thì tên của em bị nhầm. Xin hỏi luật sư trường hợp này của em thì giải quyết như thế nào ạ (Các thông tin khác vẫn đúng). Cảm ơn luật sư!

Trả lời : Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Trường hợp bạn được cấp mã số thuế, nhưng khi cấp cơ quan thuế cập nhật nhầm tên của bạn, ví dụ "Vi" thành "Vy" và bạn muốn thay đổi thông tin trên mã số thuế này cho khớp với các thông tin trong chứng minh nhân dân hay giấy khai sinh, bạn thực hiện các thủ tục theo quy định tại khoản 2, 3 Luật quản lý thuế 2019 và khoản 3 thông tư 105/ 2020/TT-BTC như sau

Thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế

- Người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế khi có thay đổi thông tin đăng ký thuế thì phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi.

- Trường hợp cá nhân có ủy quyền cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thay đổi thông tin đăng ký thuế cho cá nhân và người phụ thuộc thì phải thông báo cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi; tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý thuế chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ủy quyền của cá nhân.

Hồ sơ thay đổi nội dung đăng ký thuế

Người nộp thuế là cá nhân quy định tại Điểm k, l, n Khoản 2 Điều 4 Thông tư này có thay đổi thông tin đăng ký thuế của bản thân và người phụ thuộc (bao gồm cả trường hợp thay đổi cơ quan thuế quản lý trực tiếp) nộp hồ sơ cho cơ quan chi trả thu nhập hoặc Chi cục Thuế, Chi cục Thuế khu vực nơi cá nhân đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú (trường hợp cá nhân không làm việc tại cơ quan chi trả thu nhập) như sau:

+ Hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế đối với trường hợp nộp qua cơ quan chi trả thu nhập, gồm: Văn bản ủy quyền (đối với trường hợp chưa có văn bản ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập trước đó) và bản sao các giấy tờ có thay đổi thông tin liên quan đến đăng ký thuế của cá nhân hoặc người phụ thuộc.

Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm tổng hợp thông tin thay đổi của cá nhân hoặc người phụ thuộc vào Tờ khai đăng ký thuế mẫu số 05-ĐK-TH- TCT hoặc mẫu số 20-ĐK-TH-TCT ban hành kèm theo Thông tư này gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ quan chi trả thu nhập.

+ Hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế đối với trường hợp nộp trực tiếp tại cơ quan thuế, gồm:

+ Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này;

+ Bản sao Thẻ căn cước công dân hoặc bản sao Giấy chứng minh nhân dân còn hiệu lực đối với người phụ thuộc là người có quốc tịch Việt Nam; bản sao Hộ chiếu còn hiệu lực đối với người phụ thuộc là người có quốc tịch nước ngoài hoặc người có quốc tịch Việt Nam sinh sống tại nước ngoài trong trường hợp thông tin đăng ký thuế trên các Giấy tờ này có thay đổi.

Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của Luật Minh Khuê. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6162  để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất.

Trân trọng./.