1. Khi nào bị truy cứu với tội đánh bạc ?

Thưa luật sư, cho tôi hỏi: Vào ngày mùng 5/3/2016 tôi có bị bắt vì tội đánh bạc. Trong người tôi có dưới 5 triệu đồng, sau đó tôi bị giam vì 2 tháng và được tại ngoại,gia đình tôi là gia đình hộ nghèo, mẹ và anh tôi là người tàn tật,bố tôi ốm đau quanh năm,hiện tại tôi là trụ cột chính trong gia đình.
Xin hỏi luật sư là? tôi có thể được hưởng án treo không ạ, hay là vẫn phải đi tù ạ ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Trước hết công ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Chúng tôi xin tư vấn cho anh về vấn đề này như sau:

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 tại Điều 321 quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội phạm đánh bạc :

Khách thể của tội phạm : Tội phạm xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, khác với pháp luật của một số nước tư bàn quỵ định cho phép hoạt động đánh bạc, pháp luật nước ta nghiêm cấm mọi hoạt động đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào và coi đây là hành vi xậm phạm đến trật tự an toàn xã hội.

Mặt khách quan của tội phạm : Tội phạm được thể hiện ở hành vi đánh bạc trái phép dưới bẩt kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật. Hành vi đánh bạc được biểu hiện dưới bất cứ hình thức nào được, thua bằng tiền hoặc dùng hiện vật để gán nợ, hiện vật có thể là vàng, bạc, đá quí, xe máy, ô tô.v.v.... Các hình thức đánh bạc có thể là đánh bài, tổ tôm, sóc đĩa, đánh ba cây, cá độ bóng đá.v.v..

Chỉ truy cứu trách nhiệm về tội này khi có một trong những điều kiện sau:

Số tiền, hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng

Số tiền, hiện vật có giá trị dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm : Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lồi cổ ý, nhằm thu lợi bất chính.

Chủ thể của tội phạm : Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định.

Như vậy, với số tiền công an thu trên chiếu bạc là 7 triệu đồng và anh không có các tình tiết theo khoản 2 điều 321 của Bộ Luật Hình sự 2015 sẽ áp dụng khung hình phạt theo khoản 1.

3. Quy định về hưởng án treo

Điều 65 BLHS 2015 quy định về Án treo:

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Hiện nay, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn khi người phạm tội đánh bạc mà thuộc trong những trường hợp được quy định tại Điều 2 NQ 02/2018 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

2. Có nhân thân tốt.

Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trong trường hợp của anh, trong người anh có dưới 5 triệu đồng, tuy nhiên số tiền để tính vào dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc là tổng số tiền trên chiếu bạc, nên nếu tổng số tiền này lớn hơn 5 triệu thì anh vẫn bị khởi tố hình sự về hành vi này. Nếu số tiền của cả chiếu bạc dưới 5 triệu nhưng anh đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã từng bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc thì anh cũng sẽ bị khởi tố.

Trường hợp anh không thuộc 02 trường hợp trên thì anh có thể bị xử lý vi phạm hành chính như sau:

Theo nội dung tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP Điều 26:

Điều 26. Hành vi đánh bạc trái phép

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

>> Xem thêm:  Cá độ game có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

2. Mức phạt đối với tội danh đánh bạc ?

Kính chào luật sư, Em có người nhà dính vào vụ đánh bạc tại Đ10 CM-TN-HP (thu tại hiện trường được 3 triệu và khám trên người thu được tất cả là 3 triệu nữa)..ngày 9/3 vừa qua,vụ việc đã đc lên báo nổi tiếng vì có con bạc tử vong, người nhà em cũng liên quan nhưng chỉ vào xem chứ không tham gia đánh bạc, nhân thân tốt, hợp tác với cơ quan công an.

Vậy xin luật sư tư vấn giúp Em mức hình phạt với người nhà Em?
Cảm ơn luật sư!

Mức phạt đối với tội danh đánh bạc?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi, câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Theo bạn nói thì hiện trường có 3 triệu và khám trên người được 3 triệu nữa nên tổng là 6 triệu - đủ để cấu thành tội phạm hình sự về tội đánh bạc theo quy định trên. Bạn có nói người nhà bạn chỉ đứng xem thôi chứ không chơi. Tuy nhiên, việc chứng minh được người nhà bạn không tham gia là rất khó, bởi thực tế những người có mặt khi vụ dánh bạc đang diễn ra được hiểu là những người cùng tham gia chơi. Do đó, người nhà bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định trên.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

>> Xem thêm:  Chơi tú lơ khơ ăn tiền tại đám cưới thì bị xử phạt thế nào ?

3. Tư vấn khi nào bị xử theo tội đánh bạc ?

Thưa luật sư: Tôi có tham gia đánh bạc với hình thức 3 cây, trong quá trình chơi, tôi hết 500.000 đồng nên tôi đứng dậy ra về. Một lúc sau công an vào bắt các đối tượng đang chơi bạc, nhưng quá trình lấy lời khai các đối tượng đã khai có cả tôi chơi lúc đầu.
Vậy cho tôi hỏi tôi có bị xử lý theo pháp luật không và mức xử lý cụ thể như thế nào ? Lúc công an bắt thì tổng chiếu chơi bạc là 5.400.000 đồng, mỗi người có khoảng 700.000 - 1.000.000 đồng ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi, câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Theo bạn nói thì hiện trường có 3 triệu và khám trên người được 3 triệu nữa nên tổng là 6 triệu - đủ để cấu thành tội phạm hình sự về tội đánh bạc theo quy định trên. Bạn có nói người nhà bạn chỉ đứng xem thôi chứ không chơi. Tuy nhiên, việc chứng minh được người nhà bạn không tham gia là rất khó, bởi thực tế những người có mặt khi vụ dánh bạc đang diễn ra được hiểu là những người cùng tham gia chơi. Do đó, người nhà bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định trên.

Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể về Điều 248 như sau:

"Điều 1. Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự

1. “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

2. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

4. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:

a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này..."

Nghị quyết trên được ban hành để hướng dẫn về tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự 1999, tuy nhiên vẫn còn hiệu lực áp dụng đối với tội đánh bạc theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó nếu đây là lần đầu tiên bạn chơi bài và tổng số tiền chơi của bạn, mặc dù trong người bạn chỉ có 500.000 đồng tuy nhiên theo căn cứu tại khoản 3 nêu trên thì cơ sở xác định “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” trong vụ án này là 5.400.000 đồng mà cơ quan công an thu giữ được tại hiện trường vụ đánh bạc nên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bạn sẽ bị xử lý theo khung hình phạt nêu trên.

>> Xem thêm:  Cá cược bóng đá World Cup 2018 cần lưu ý những điều sau để tránh rủi ro pháp lý ?

4. Quy định xử phạt của pháp luật khi đánh bạc ?

Thưa luật sư, Em có một thắc mắc như sau: Em muốn hỏi là anh của em đánh bạc với số tiền 2.000.000 đồng thì có bị phạt tù không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn!

eQuy định xử phạt của pháp luật khi đánh bạc ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về tội đánh bạc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi, câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Theo bạn nói thì hiện trường có 3 triệu và khám trên người được 3 triệu nữa nên tổng là 6 triệu - đủ để cấu thành tội phạm hình sự về tội đánh bạc theo quy định trên. Bạn có nói người nhà bạn chỉ đứng xem thôi chứ không chơi. Tuy nhiên, việc chứng minh được người nhà bạn không tham gia là rất khó, bởi thực tế những người có mặt khi vụ dánh bạc đang diễn ra được hiểu là những người cùng tham gia chơi. Do đó, người nhà bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định trên.

Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể về Điều 248 như sau:

"Điều 1. Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự

.....

3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

4. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:

a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này..."

Nghị quyết trên được ban hành để hướng dẫn về tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự 1999, tuy nhiên vẫn còn hiệu lực áp dụng đối với tội đánh bạc theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong trường hợp của anh, trong người anh của bạn chỉ có 2 triệu đồng, tuy nhiên số tiền để tính vào dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc là tổng số tiền trên chiếu bạc, nên nếu tổng số tiền này lớn hơn 5 triệu thì anh đó vẫn bị khởi tố hình sự về hành vi này. Nếu số tiền của cả chiếu bạc dưới 5 triệu nhưng an của bạn đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã từng bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc thì anh cũng sẽ bị khởi tố hình sự.

Trường hợp anh không thuộc 02 trường hợp trên thì anh của bạn có thể bị xử lý vi phạm hành chính như sau:

Theo nội dung tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP Điều 26:

Điều 26. Hành vi đánh bạc trái phép

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

5. Tình tiết giảm nhẹ về tội đánh bạc ?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi đã có một tiền sự về tội đánh bạc cách đây 6 tháng,hiện tại tôi vừa bị bắt vì tội đánh bạc với hình thức xóc đĩa tiếp. Và tại chiếu bạc tôi vừa bị băt công an thu giữ tổng số tiền là 89 triệu đồng. Trong đó số tiền tôi tham gia đánh bạc là 200 nghìn đồng. Tôi là trụ cột của gia đình thuộc diện hộ nghèo,bản thân là quân nhân xuất ngũ,bố đẻ và bố vợ đều đã phục vụ cho quân đội, bà nội có huy chương kháng chiến.

Vậy cho tôi hỏi tôi có được hưởng các tình tiết giảm nhẹ của pháp luật hay không và nếu được thì ở mức độ nào. Tôi có cần phải nhờ luật sư bào chữa không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn sự tư vấn của luật sư.

Luật sư trả lời:

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các tình tiết giảm nhẹ như sau:

Điều 51: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Đối chiếu với những tình tiết trên anh có thể được áp dụng tình tiết: cha mẹ là người có công với cách mạng; và nếu anh thành khẩn khai báo thì sẽ có thêm một tình tiết giảm nhẹ nữa.

Tuy nhiên, ngược lại anh lại có tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên; vì vậy trường hợp này theo đánh giá thì mức giảm nhẹ TNHS của anh là không nhiều. Vì vậy để có thể giảm nhẹ TNHS anh nên nhờ luật sư bào chữa cho mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại về tội đánh bạc, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Cá độ bóng đá sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp Luật hiện hành ?