1. Cha không chịu nhận con thì giải quyết như thế nào ?

Xin chào luật sư tôi có quen một anh năm nay 27 tuổi và đã ly hôn vợ. Hiện tại thì tôi đang có bầu được 7 tháng tôi yêu cầu anh ta phải nói gia đình anh ta lên cưới tôi để cùng chăm lo cho đứa bé . Nhưng anh ta và gia đình anh ta đều im lặng. Tôi hỏi anh ta thì anh ta chỉ nói sẽ có trách nhiệm và sẽ lo cho mẹ con tôi. Nhưng theo tôi được biết thì anh ta đã có người yêu mới hơn một tháng rồi tôi cũng thỏa thuận với anh ta về việc cấp dưỡng cho tôi nuôi con còn chuyện cưới hỏi thì tôi không cần nữa nhưng anh ta không chịu kí trong khi đó anh ta lại đi lừa cô người yêu mới rằng đứa con trong bụng tôi chắc gì của anh ta.
Vậy cho tôi hỏi sau khi tôi sinh con ra tôi có thể nộp đơn lên tòa và yêu cầu giám định ADN không. và anh ta phải chịu những hình phạt gì, và con tôi có được hưởng cấp dưỡng hằng tháng tới năm 18 tuổi không?
Tôi xin chân thành cảm ơn ạ

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, nếu người cha không chịu công nhận cháu bé là con thì bạn nộp đơn lên tòa yêu cầu xác nhận quan hệ cha con và yêu cầu người chồng thực hiện nghĩa vụ trợ cấp nuôi dưỡng con.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, do người cha không muốn nhận con cũng như không muốn thực hiện nghĩa vụ của mình với con nên người mẹ có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người cha có hộ khẩu thường trú để giải quyết với nội dung xác định cha cho con

Hồ sơ để yêu cầu xác định cha cho con bao gồm:

- Đơn yêu cầu xác đinh cha cho con (có thể xin tại Tòa án);

- Chứng minh thư nhân dân của mẹ (photo có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu của mẹ (photo có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (photo có chứng thực);

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha con (có thể là: - Giấy tờ hoặc thư do người bị kiện viết trong đó có thừa nhận đứa bé là con mình; - Xác nhận của công đồng dân cư về việc chung sống như vợ chồng,…).

Trong trường hợp vụ án được thụ lý giải quyết và đưa ra xét xử, Tòa án có thể yêu cầu trưng cầu giám định AND để xác định quan hệ cha con. Tuy nhiên, để trưng cầu giám định, nguyên đơn là người mẹ phải tạm ứng chi phí giám định. Mặt khác, người cha trong trường hợp này hoàn toàn có quyền từ chối và Tòa án không thể ép buộc. Do vậy, điều này sẽ gây trở ngại lớn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Bởi vây, người mẹ cần chủ động thu thập và chuẩn bị những chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con để Tòa án có thêm căn cứ giải quyết vụ việc. Chỉ khi cơ quan có thẩm quyền công nhận mối quan hệ cha con thì người mẹ mới có quyền yêu cầu người cha thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mình.

Sau khi xác đinh được quan hệ cha con, người cha không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Người mẹ có thể làm đơn yêu cầu cấp dưỡng sau khi đã có quyết định xác định cha con của Tòa án hoặc gửi đồng thời yêu cầu này khi nộp đơn xác định quan hệ cha con.

Căn cứ Điều 14 Thông tư 04/2020/TT-BTP QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT HỘ TỊCH VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2015/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2015 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT HỘ TỊCH

"Điều 14. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.
Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật."

Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn về giấy từ chối quyền nuôi con ?

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận cha con mới nhất theo quy định của pháp luật ? Cần những giấy tờ gì để xác nhận cha con ?

2. Cha không nhận con có khởi kiện đòi tiền cấp dưỡng được không ?

Thưa luật sư! Tôi và anh ây yêu nhau dẫn đến việc có con ngoài dã thú. bây giờ anh ây không nhận con trong khi gia đình anh ấy qua lai nhận con cháu. vậy tôi có được kiện để cho anh ấy chu cấp tiền nuôi dưỡng con không ạ ? Bây giờ é gần 7 tháng rồi ạ ?
Cảm ơn!

Chồng không chịu nhận con thì vợ có quyền yêu cầu khởi kiện và xác định huyết thống (ADN) không ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, do người cha không muốn nhận con cũng như không muốn thực hiện nghĩa vụ của mình với con nên người mẹ có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người cha có hộ khẩu thường trú để giải quyết với nội dung xác định cha cho con

Hồ sơ để yêu cầu xác định cha cho con bao gồm:

- Đơn yêu cầu xác đinh cha cho con (có thể xin tại Tòa án);

- Chứng minh thư nhân dân của mẹ (photo có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu của mẹ (photo có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (photo có chứng thực);

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha con (có thể là: - Giấy tờ hoặc thư do người bị kiện viết trong đó có thừa nhận đứa bé là con mình; - Xác nhận của công đồng dân cư về việc chung sống như vợ chồng,…).

Trong trường hợp vụ án được thụ lý giải quyết và đưa ra xét xử, Tòa án có thể yêu cầu trưng cầu giám định AND để xác định quan hệ cha con. Tuy nhiên, để trưng cầu giám định, nguyên đơn là người mẹ phải tạm ứng chi phí giám định. Mặt khác, người cha trong trường hợp này hoàn toàn có quyền từ chối và Tòa án không thể ép buộc. Do vậy, điều này sẽ gây trở ngại lớn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Bởi vây, người mẹ cần chủ động thu thập và chuẩn bị những chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con để Tòa án có thêm căn cứ giải quyết vụ việc. Chỉ khi cơ quan có thẩm quyền công nhận mối quan hệ cha con thì người mẹ mới có quyền yêu cầu người cha thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mình.

Sau khi xác đinh được quan hệ cha con, người cha không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Người mẹ có thể làm đơn yêu cầu cấp dưỡng sau khi đã có quyết định xác định cha con của Tòa án hoặc gửi đồng thời yêu cầu này khi nộp đơn xác định quan hệ cha con. Bài viết tham khảo thêm: Làm thế nào để đòi được tiền cấp dưỡng cho con?

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mẫu tờ khai đăng ký nhận cha mẹ con mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn thủ tục nhận cha con ?

3. Chồng không chịu nhận con thì vợ có quyền yêu cầu khởi kiện và xác định huyết thống (ADN) không ?

Thưa luật sư, Tôi có câu hỏi muốn hỏi luật sư. Vợ chồng tôi lấy nhau 2 năm , da có con nhưng chồng tôi ko chịu nhận con và boi nho , rêu rếch tôi lên facebook vậy tôi muốn hỏi luật sư ,tôi co thể nhờ toàn án dua di xét nghiệm huyết thống không ?
Xin cảm ơn.
Người gửi : Hoàng Thị Liên

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ và yêu cầu cấp dưỡng, là một trong những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Như vậy, khi bạn gửi đơn lên tòa án yêu cầu xác định cha cho con và được tòa thụ lí giải quyết vụ việc dân sự này. Khi tòa án thụ lí giải quyết đơn yêu cầu của bạn thì lúc đó phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.

Căn cứ vào Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định về xác định cha, mẹ:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”.

Các trường hợp xác định cha, mẹ cho con (con chung của vợ, chồng) bao gồm:

+ Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ, chồng.

+ Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân (đây là con chung của vợ, chồng).

+ Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ, chồng.

Với trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa xác nhận.

Thứ hai, theo Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về trưng cầu giám định, yêu cầu giám định:

1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.

3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết.

4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.

5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.

Như vậy, khi đó đưa đơn ra tòa và bạn đưa ra được những chứng cứ chứng minh ban đầu cho yêu cầu của mình và được tòa án thụ lí. Người mẹ có quyền đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá. Khi người mẹ có yêu cầu lên tòa án về việc giám định ADN, tòa án sẽ yêu cầu chồng cũng cấp ADN để trưng cầu giám định.

Theo đó, chồng bạn có nghĩa vụ phải cung cấp cho tòa án ADN khi tòa án có yêu cầu.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đăng ký kết hôn và làm thủ tục nhận con cần chuẩn bị hồ sơ những gì ? Nhận con để đăng ký ở đâu ?

4. Bố không nhận con ruột của mình có phạm tội gì không và người mẹ có quyền yêu cầu những gì ?

Thưa Luật sư! Tôi có một vấn đề muốn được Luật sư tư vấn giúp: Hai người yêu nhau, khi biết bạn gái có thai thì dọn về ở chung được 4 tháng thì bạn gái sinh con. Bạn trai là sinh viên năm cuối, bạn gái làm công nhân may. Khi bạn gái vào viện sinh con thì bạn trai ở nhà dọn đồ và lấy hết tiền bỏ đi. Bạn trai kia hoàn toàn chối bỏ trách nhiệm làm cha tính đến nay đã được 4 tháng.
Cho hỏi vậy người bạn trai có phạm tội gì không và người bạn gái kia có quyền yêu cầu những điều gì trong trường hợp này?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.T

Chồng không chịu nhận con thì có thể yêu cầu Tòa án đi xét nghiệm ADN không?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, trường hợp của bạn, khi biết bạn gái có thai thì hai người đã dọn về ở chung được 4 tháng, như vậy mới chỉ ở chung hoàn toàn chưa đăng ký kết hôn. Và rất éo le là người bạn trai kia lại không muốn nhận đứa trẻ và trốn tránh nghĩa vụ làm cha. Do đó vụ việc này sẽ không được giải quyết dưới khía cạnh hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình. Tuy vậy, luật hôn nhân và gia đình vẫn có quy định cụ thể về việc xác định cha, mẹ cũng như nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con trên quan hệ huyết thống. Cụ thể, Điều 88 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về xác định cha, mẹ như sau:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Đứa bé bạn mà bạn gái sinh ra là “con sinh ra trước ngày đang ký kết hôn”, do đó nghĩa vụ của bố và mẹ là phải công nhận đứa bé này. Người mẹ có bằng chứng về việc đứa bé trong bụng bạn là con của người bạn trai kia, nên nếu người kia có ý định phủ nhận thì phải có bằng chứng và phải được Tòa xác định. Do đó, bạn có thể yêu cầu Tòa án can thiệp để buộc người kia thực hiện nghĩa vụ của cha đối với con bạn.

Thứ hai, về nghĩa vụ cấp dưỡng, Điều 107 quy định:

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Theo đó, khi đã xác định được cha đứa bé thì nghĩa vụ cấp dưỡng là bắt buộc và không thể trốn tránh. Do vậy, trước mắt bạn nên nói chuyện với cha đứa trẻ để để nghị người đàn ông này nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ của người cha. Nếu người đó không đồng ý thì bạn có thể yêu cầu Tòa án can thiệp.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cám ơn bạn đã lựa chọn và tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Chồng không chịu nhận con thì có thể yêu cầu Tòa án đi xét nghiệm ADN không?

Thưa luật sư, tôi có câu hỏi muốn hỏi luật sư: Vợ chồng tôi lấy nhau 02 năm, đã có con nhưng chồng tôi không chịu nhận con và bôi nhọ, xúc phạm tôi lên facebook. Vậy tôi muốn hỏi luật sư, tôi có thể yêu cầu Tòa án đưa đi xét nghiệm huyết thống (ADN) được không ?
Mong sớm nhận được phản hồi của luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Theo như thông tin bạn cung cấp, vợ chồng bạn đã lấy nhau được 02 năm và đã có với nhau một người con chung nhưng chồng bạn không muốn nhận cháu làm con, thậm chí còn có những hành vi bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn trên các trang mạng xã hội cũng như bạn bè, người quen biết đối với bạn. Lúc này, do bạn không nói rõ hay bạn lấy nhau thì đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật hay chỉ là chung sống với nhau như vợ chồng. Do đó, tùy từng trường hợp dưới đây, bạn có thể thực hiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tranh chấp về xác nhận quan hệ cha - con giữa chồng bạn và con bạn như sau:

Trường hợp thứ nhất, hai bạn đã đăng ký kết hôn rồi. Khi hai bạn đã đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, lúc này, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân mặc nhiên được xem là con chung của hai vợ chồng. Trong trường hợp này, nếu chồng bạn không thừa nhận đứa con này là con chung của hai vợ chồng bạn thì chồng bạn phải đưa ra được căn cứ chứng minh được cháu không phải là con chung của hai vợ chồng như Kết quả giám định ADN hoặc các bằng chứng khác chứng minh anh ấy không phải là cha ruột của cháu thì lúc này, anh chồng bạn mới có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định xác định đây không phải là con ruột của chồng bạn. Còn khi không có bằng chứng thì đây vẫn là con chung của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân.

Trường hợp thứ hai, hai bạn chưa đăng ký kết hôn theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà chỉ chung sống với nhau như vợ chồng và có một con chung, đồng thời, chồng bạn không thừa nhận đây là con chung của hai vợ chồng bạn, giữa hai bạn chưa phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai vợ chồng. Lúc này, căn cứ theo Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nhận cha, mẹ:

"Điều 90. Quyền nhận cha, mẹ

1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

2. Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha."

Theo đó, con có quyền nhận cha, mẹ kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết. Chồng bạn không thừa nhận con của bạn sinh ra trong thời gian hai bạn chung sống với nhau như vợ chồng là con của anh ấy và bạn thì bạn có quyền làm đơn khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi chồng bạn đang cư trú (có thể là thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi đang làm việc) để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bạn cần cung cấp những bằng chứng chứng minh con là con chung của hai vợ chồng như Kết quả giám định ADN và giấy tờ, tài liệu và các đoạn ghi âm, ghi hình, video hoặc người làm chứng minh về mối quan hệ trên để Tòa án có căn cứ xác nhận quan hệ cha - con trong trường hợp của bạn.

Bên cạnh đó, đối với hành vi chồng bạn bôi nhọ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bạn trên các trang mạng xã hội cũng như loan truyền những lời nói, những việc hoàn toàn trái với sự thật nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng, danh dự, nhân phẩm của bạn thì bạn có quyền làm Đơn Tố giác tội phạm tới cơ quan công an nơi chồng bạn đang cư trú có thể là cơ quan công an cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi chồng bạn đang cư trú (có thể là thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi đang làm việc) để yêu cầu giải quyết theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội vu khống:

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền....

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn phải giải quyết như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nhận cha con có bắt buộc xét nghiệm ADN không?

Trả lời:

Không,

Trường hợp không có giấy xét nghiệm ADN thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

Câu hỏi: Có được ủy quyền cho người khác làm thủ tục nhận cha con không?

Trả lời:

Pháp luật không cho phép khi làm thủ tục này được ủy quyền cho người khác làm thủ tục.

Câu hỏi: Sổ hộ tịch có thời hạn không?

Trả lời:

Sổ hộ tịch được lưu trữ vĩnh viễn, được giữ gìn, bảo quản để sử dụng, phục vụ nhu cầu của nhân dân và hoạt động quản lý nhà nước.