1. Có được yêu cầu xét nghiệm ADN của con sau khi ly hôn không ?

Thưa luật sư, xin luật su tư vấn giúp tôi vấn đề sau : Tôi và vợ tôi vừa mới ly hôn tự nguyện xong ( đã có giấy quyết định tại toà án), lúc đầu vợ tôi tự nguyện nhận nuôi con (3 tuổi) và không nhận trợ cấp từ tôi. Nhưng sau đó cô ấy thay đổi muốn tôi cấp dưỡng hàng tháng, nay tôi đang thất nghiệp (đang nhận tiền thất nghiệp hàng tháng) ở nhà thuê và chăm sóc Mẹ già đang bệnh.
Vậy tôi có quyền từ chối cấp dưỡng hay không, đồng thời tôi muốn yêu cầu được xét nghiệm ADN con tôi được không (vì lúc đầu tôi đã nghi ngờ không phải con ruột của minh).
-Nếu đó không phải con tôi thì tôi có quyền yêu cầu không trợ cấp được không ?
-Còn nếu đúng là con ruột thì tôi phải trợ cấp bao nhiêu trong điều kiện hoàn cảnh của tôi như bây giờ (nếu tôi và vợ không thoả thuận được mức trợ cấp) ?
Xin luật sư tư vấn giúp tôi, xin chân thành cảm ơn !

Tư vấn giải quyết vấn đề chồng bắt con đi sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Vấn đề cấp dưỡng:

Điều 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đinh về quyền và nghiã vụ của bố mẹ đối với con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.".

Theo đó, cấp dưỡng là nghĩa vụ bắt buộc của cha, mẹ - người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu bên còn lại thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, bạn đang thất nghiệp, ở vào tình trạng kinh tế khó khăn. Vấn đề này, điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy, bạn có thể thỏa thuận với người vợ cũ về nghĩa vụ cấp dưỡng do bạn đang ở vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được vấn đề này có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Về mức cấp dưỡng, Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định như sau:

“Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Theo đó, mức cấp dưỡng sẽ do hai bên tự thỏa thuận, nếu không tự thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Vấn đề giám định ADN đối với con:

Tại Khoản 2 Điều 89, luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định về việc xác định con như sau:

“2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.”

Bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án xác nhận lại quan hệ cha con. Về nguyên tắc, nếu muốn xác nhận một người không phải là con mình thì bạn phải cung cấp chứng cứ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gien. Người có yêu cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định gien.Bạn không nên tự đi giám định ADN bởi việc giám định do bạn tự thực hiện sẽ không được coi là đúng với trình tự thu thập chứng cứ nên chứng cứ không được chấp nhận là hợp pháp.

Khi đã có quyết định chính xác của Tòa án về việc cháu bé không phải con bạn thì bạn mới không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do vợ cũ yêu cầu. Nếu đó là con bạn thì đương nhiên bạn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dương khi không trực tiếp nuôi con.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn giải quyết vấn đề chồng bắt con đi sau ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi đã ly hôn gần 6 năm rồi. Tòa giải quyết con cho tôi nuôi. Giờ con tôi 9 tuổi.Trong quá trình nuôi con tôi luôn tạo cho con được tình cảm nội ngoại.

Vào ngày 28/6 tôi cho con vào nhà nội chơi 7 ngày, sau 7 ngày không thấy con về và tôi vào nhà nội chở con thì bà nội nói bố nó chở đi Quy Nhơn rồi. Sau đó tôi điện thoại hỏi bố của con tôi thì ông nói "Nó không về nữa đâu. Đi kiện ra tòa mà lấy con đi". Tôi làm đơn báo công an hai xã của tôi và chồng tôi ở, báo tòa án, báo thi hành án dân sự. Nhưng tất cả đều không giải quyết đơn cho tôi.

Vậy tôi biết làm sao bây giờ?

Mong Luật sư tư vấn giúp tôi. Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.N

Cả hai vợ chồng đều vắng mặt trong hai phiên hòa giải ly hôn thì xử lý như thế nào

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Mặc dù bạn đã ly hôn nhưng vẫn tạo cho con điều kiện để phát triển, tạo cơ hội để bé gặp gia đình bên nội và bố của cháu. Tuy nhiên, sự việc gây căng thẳng chính là việc bố cháu bé bắt bé đến nơi khác mà không được sự đồng ý của bạn - người được Tòa án trao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Với hành vi phạm quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con thì anh ta sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng theo quy định tại Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

Điều 53: Hành vi ngăn cản việc thực hiện, quyền nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau"

Việc bạn đã báo cơ quan công an nhưng họ không giải quyết đơn cho bạn thì đây là một sự vi phạm pháp luật. Bạn tiếp tục làm đơn tố cáo hành vi vi phạm của anh ta về việc đưa con đi nơi khác mà không được sự đồng ý của bạn với cơ quan công an. Nếu sau khi được can thiệp mà anh ta vẫn không đưa bé về với bạn thì sẽ bị khỏi tố về tội không chấp hành án theo quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Điều 304. Tội không chấp hành án

"Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi dành cho quý khách hàng, ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và thông tin mà khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhâ, tổ chức tham khảo. Nếu còn vấn đề thắc mắc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài1900.6162 để được tư vấn pháp luật trực tiếp.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Cả hai vợ chồng đều vắng mặt thì có ly hôn được không ?

Xin luật sư cho toi hỏi một vấn đề như sau: tôi và vợ đã 10 năm liên tục không chung sống với nhau vì vợ tôi đi lao động ở nước ngoài, giữa chúng tôi cũng không còn tình cảm. Hiện tại có với nhau một đứa con không có tài sản chung, chúng tôi cũng từng gửi đơn ly hôn ra toà nhưng khi toà gọi cả 2 đều không có mặt để giải quyết. Hôn nhân có tự động bị hủy không, và có cần làm thủ tục gì không ạ ?
Cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Khoản 2 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

3. Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

6. Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

7. Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.

8. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

9. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

10. Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

11. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Thủ tục ly hôn gồm 02 dạng: Xin ly hôn đơn phương và xin công nhận thuận tình ly hôn.

Trong trường hợp của bạn, thuận tình ly hôn có trình tự thủ tục như sau:

+ Sau khi vợ/ chồng gửi hồ sơ xin ly hôn đến tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi 1 trong 2 vợ chồng cư trú, trong thời hạn 5 ngày làm việc tòa án sẽ kiểm tra đơn và gửi thông báo nộp tạm ứng án phí.

+ Sau khi nhận được thông báo tạm ứng án phí, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp biên lai tiền tạm ứng án phi cho Tòa án.

+ Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.

Vắng mặt vợ/ chồng khi yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

Thủ tục thuận tình ly hôn là một thủ tục giải quyết về yêu cầu dân sự, Tòa án không mở phiên tòa mà thông qua hồ sơ vợ chồng cung cấp để ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Quá trình giải quyết yêu cầu vợ chồng phải đến tòa để ký cam kết về tự nguyện xin thuận tình ly hôn. Do vậy nếu các bên không đến phiên Tòa thì có thể coi đây là từ bỏ quyền yêu cầu ly hôn nên Tòa án sẽ từ chối cấp quyết định thuận tình ly hôn cho vợ chồng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Trách nhiệm trả số nợ chồng đã vay khi ly hôn ?

Xin chào luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tôi sắp ly dị, trước khi ly hôn chồng tôi có nợ một khoản tiền rất lớn và nói đó là tiền vay để làm ăn nhưng số tiền đó tôi không hề được biết. Vậy xin cho tôi hỏi : tôi có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ này không ?
Tôi cảm ơn!

Liệu vợ có phải chịu trách nhiệm về số nợ chồng đã vay khi ly hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi ly hôn vợ, chồng có tranh chấp về nghĩa vụ của tài sản đối với người thứ 3 thì sẽ áp dụng quy định tại điều 27, 37 và 45 luật này:

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết".

- Theo quy định tại điều 37 luật HN&GĐ về nghĩa vụ chung tài sản của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung của cả hai để giải quyết:

"1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan".

- Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tại điều 27 Luật HN&GĐ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này".

Trong trường hợp này, bạn không biết về việc chồng mình có vay tiền để làm ăn (nghĩa là không có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của chồng bạn cũng không phải là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ không được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ theo quy định tại điều này và khi ly hôn bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của chồng bạn.

Ngoài ra, theo quy định tại điều 30 Luật HNGĐ nếu việc vay tiền của chồng bạn để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo nhận định của cơ quan Tòa án thì bạn cũng sẽ chịu trách nhiệm liên đới đới với khoản nợ này:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình".

Nếu tài sản vay nợ đó không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn không phải chịu trách nhiệm với số tiền này.

Tuy nhiên, trong quá trính tranh chấp xảy ra tại Tòa án và nếu như chồng bạn chứng minh được rằng đã có thỏa thuận với bạn về việc vay tiền và bạn có liên quan tới việc sử dụng số tiền này để làm ăn thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ liên đới với chồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?

5. Chưa hoàn tất thủ tục ly hôn có thể đăng ký kết hôn được không ?

Xin chào luật sư, ba em bỏ mẹ em và 4 đứa con lúc nhỏ ở quảng trị rồi vào nam sinh sống. Ông sống cùng với bà hai và có 3 người con lại làm được giấy khai sinh tên của bà hai và bố em? Vậy Luật sư cho em hỏi tại sao ba mẹ em chưa li hôn mà sao bố có thể đứng khai sinh cho những đứa con riêng? Và giấy tờ nhà đất cùng đứng tên hai người. Bố và bà hai lại có giấy kết hôn với một tên khác.
Vậy cho em hỏi ai là sai trong trường hợp này? và phải xử lí ra sao ạ? Còn giờ bố em mất không có di chúc, giấy tờ nhà đất thì do bố và bà hai đứng tên . Chúng em muốn đòi chia tài sản thì bà hai có ý định chuyển nhượng phần tài sản đó lại cho riêng tên bà hay tên con trai bà để chúng em là đứa con vợ cả không có quyền khiếu kiện.
Vậy xin cho em hỏi em phải làm thế nào ạ? em phải viết đơn thế nào gửi lên cơ quan nào để có thể giải quyết giúp em với ạ. Việc phân chia tài sản lúc này là như thế nào ạ ?

Tại sao chưa hoàn tất thủ tục ly hôn lại có thể đăng ký kết hôn với người khác ?
Luật sư tư vấn Luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 20144 có quy định " Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ" là trường hợp kết hôn trái pháp luật. Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình quy định về việc xử lý việc kết hôn trái pháp luật như sau:

Điều 11. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật.

1.Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

3. Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

4. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 12. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

Theo như những gì bạn cung cấp ba bạn và mẹ bạn chưa lý hôn, nhưng ba bạn lại làm thủ tục kết hôn với vợ khác, trường hợp này không được pháp luật công nhận. Việc kết hôn này sẽ bị Tòa tuyên hủy, ba bạn và người đó sẽ không được xác lập quan hệ vợ chồng theo pháp luật. Về vấn đề phân chia tài sản sẽ được xử lý theo quy định của Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Trong trường hợp này việc phân chia tài sản trước hết là theo sự thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận thì theo quy định của pháp luật dân sự sẽ được chia theo công sức đóng góp của mỗi người tạo nên tài sản đó.

Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trong trường hợp ba bạn đã mất mà không để lại di chúc thì số tài sản thuộc sở hữu của ba bạn sẽ được chia theo pháp luật. Do ba bạn và mẹ bạn chưa ly hôn do đó mẹ bạn và các con của ba bạn bao gồm cả anh chị em ruột của bạn và ba người con với người khác sẽ cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất để được thừa hường di sản thừa kế của ba bạn và số tài sản đó sẽ được chia đều cho mỗi người thừa kế.

Để nhận di sản thừa kế này, bạn tiến hành công chứng văn bản khai nhận di sản

Cách thức thực hiện khai nhận di sản: Nộp hồ sơ tại tổ chức hành nghề công chứng.

Thành phần hồ sơ:

- Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch.

- Dự thảo văn bản khai nhận di sản (trường hợp tự soạn thảo);

- Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

- Giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

- Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Giấy chứng tử (bản chính kèm bản sao) của người để lại di sản, giấy báo tử, bản án tuyên bố đã chết (bản chính kèm bản sao).

Khi nộp bản sao thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?