1. Chậm trả nợ vay tài chính có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Thưa Luật sư, em tên Nguyễn Ngọc Thơm, hiên tại em có vay của Homecredit.vn số tiền là 17.000.000 đồng và trả góp trong vòng 18 tháng tổng số vốn và lãi 31.518.000 đồng. Em đã góp được 9 tháng, trong tháng này em bị trễ hạn là 12 ngày.
Có 1 nhân viên của Homecredit.vn gọi điện hối thúc em đóng và em đã hẹn ngày 05/03/2016 khi chồng em đi Sài Gòn về em sẽ đóng, nhân viên của ngân hàng của đã đồng ý.
Nhưng sáng hôm nay, em nhận được 1 tin nhắn từ số điện thoại 0128504XXX với nội dung: "Văn phòng pháp lý yêu cầu Nguyễn Ngọc Thơm thanh toán số tiền trước 15h hôm nay. Nếu không đúng hẹn sẽ bồi thường hợp đồng, phạt tù 3 năm theo điều 139 Bộ Luật Hình sự về tội trốn tránh chiếm đoạt tài sản."
Hiện em đang mang thai nên không đi làm được chỉ có chồng em đi làm nhưng anh ấy chưa về kịp. Luật sư cho em hỏi em bị trễ hẹn vì chưa lo kịp tiền nhưng mà bên đó cho là em trốn tránh và chiếm đoạt tài sản, như vậy khi ra tòa em có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ạ?
Em xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Đầu tiên, theo như thông tin mà chị cung cấp, nội dung tin nhắn gửi đến chị nói rằng: " "Văn phòng pháp lý yêu cầu Nguyễn Ngọc Thơm thanh toán số tiền trước 15h hôm nay. Nếu không đúng hẹn sẽ bồi thường hợp đồng, phạt tù 3 năm theo Điều 174 Bộ Luật Hình sự về tội trốn tránh chiếm đoạt tài sản." Hiện tại, Bộ Luật Hình sự của Việt Nam không có khái niệm về tội "trốn tránh chiếm đoạt tài sản". Theo Điều 174 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Hình sự 2017) chỉ có quy định về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g)97 (được bãi bỏ)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b)98 (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b)99 (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Như vậy, về mặt khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Về mặt chủ quan, người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý, ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo.

Theo như thông tin mà chị cung cấp, việc chị sở hữu số tiền vay là thông qua hợp đồng vay trả góp, việc chị trả chậm tiền cũng không phải là cố ý. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự qua Email: Lienhe@luatminhkhue.vn hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

2. Trả nợ không đúng thời hạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?

Kính chào quý công ty, Tôi muốn Luật sư giải quyết vấn đề này giúp tôi: Ngày 22/20/2015 Ông A có vay của tôi 20 triệu có giấy vay nợ viết tay. Ông A có nói sẽ trả cho tôi vào ngày 15/12/2015. Nhưng sau đó qua ngày hẹn mà không thấy ông A trả tiền. Được biết ông A đang gặp khó khăn về kinh tế nên chưa trả được tôi và đã nói với tôi. Ông A hứa sẽ trả cho tôi. Vậy tôi cứ phải chờ mãi sao? Làm sao tôi đảm bảo được quyền lợi của mình?
Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Giao dịch mà bạn thực hiện với ông A được thực hiện qua hợp đồng dân sự được quy định như sau:

- Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản như sau:

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định".

Trách nhiệm khi thực hiện nghĩa vụ dân sự không đúng thời hạn được quy định như sau:

" Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, khi ông A không thực hiện nghĩa vụ dân sự theo thời hạn mà hai bên thỏa thuận thì ông A phải chịu trách nhiệm về việc chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định nêu trên. Bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu ông A trả tiền.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Luật Minh Khuê biên tập