1. Lái xe lạng lách đãnh võng là gì?

Lái xe lạng lách đãnh võng là một hành vi đi xe nguy hiểm; đe dọa đến tính mạng của chính người điều khiển và cả những người tham gia giao thông khác; trên đường bộ. Lái xe lạng lách đãnh võng là một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả hành động lái xe mạo hiểm và nguy hiểm, thường được thực hiện trên đường công cộng nơi có lượng giao thông cao. Điều này bao gồm thay đổi tốc độ các làn đường, chuyển hướng đột ngột, vượt qua, vượt qua nơi cấm và thực hiện các hoạt động khác gây nguy hiểm cho các phương tiện giao thông khác và người tham gia giao thông . Hành vi này là vi phạm luật giao thông và có thể gây ra tai nạn nghiêm trọng và nguy hiểm cho cả người lái xe và người khác trên đường.

Lạng lách đánh võng là một hành vi đi xe nguy hiểm; đe dọa đến tính mạng của chính người điều khiển và cả những người tham gia giao thông khác; trên đường bộ. Hành vi này được biểu hiện như: đánh tay lái sang hai bên; làm cho xe chao nghiêng, đảo qua đảo lại như đưa võng trên đường; (đi xe) luồn lách, lạng bên nọ bên kia với tốc độ cao để vượt lên. Bởi tính chất của hành vi này; pháp luật đã dành ra những quy định riêng về chế tài. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa nắm rõ được lạng lách đánh võng phạt bao nhiêu tiền; cho nên vẫn còn thờ ơ, vi phạm vào các quy định của pháp luật.

 

2. Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lạng lách, đánh võng và việc xử lý người dưới 18 tuổi đi xe lạng lách, đánh võng

2.1 Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lạng lách, đánh võng

Theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP xử phạt vi phạm giao thông đường bộ và đường sắt quy định như sau: Điều 6. Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Căn cứ điểm b, khoản 8: Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị”.

Ngoài ra, điểm c, khoản 10, Điều 6 Nghị định 123/2021/NĐ-CP còn quy định tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2 tháng đến 4 tháng.
Cùng với đó, khoản 9 và điểm d khoản 10, Điều 6 Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị mà gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ.
Như vậy, đối với hành vi này thì người điều khiển phương tiện xe máy sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng và bên cạnh đó còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 3 tháng đến 5 tháng.

 

2.2 Xử lý người dưới 18 tuổi đi xe lạng lách, đánh võng

Căn cứ khoản 1, Điều 60 Luật Giao thông đường bộ thì: “Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự…”. Tức là, trong trường hợp này, người vi phạm chưa được cho phép điều khiển xe máy.
Căn cứ theo quy định khoản 4, Điều 21 Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên”.
Bên cạnh đó, theo điểm i, khoản 1, Điều 82 Nghị định 123/2021/NĐ-CP thì người điều khiển xe trên 50 cm3 khi không đủ 18 tuổi, ngoài việc bị phạt tiền còn có hình thức phạt bổ sung là tạm giữ phương tiện tối đa 7 ngày.
Ngoài ra, người vi phạm vẫn bị xử phạt về hành vi lạng lách, đánh võng theo như phân tích ở trên.

 

3. Chạy xe lạng lách, đánh võng có bị xử lý hình sự không?

3.1 Điều khiển xe máy lạng lách đánh võng gây tai nạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Tại Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi  2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Như vậy, theo quy định như trên, trường hợp nếu người có hành vi lạng lách đánh võng khi điều khiển xe máy gây tai nạn và gây các hậu quả theo quy định như trên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt cao nhất là 15 năm tù.

Khi phân tích cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, một trong những yếu tố cần quan tâm là khách thể của tội phạm.

Khách thể của tội này là sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Để đấu tranh phòng chống vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bằng pháp luật hình sự, Nhà nước quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi này.

Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan: Đó là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Quy định về tham gia giao thông đường bộ là quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (gọi tắt Luật GTĐB) về bảo đảm an toàn trong hoạt động người tham gia giao thông đường bộ như quy định về: Việc chấp hành báo hiệu đường bộ; tốc độ và khoảng cách giữa các phương tiện tham gia giao thông; sử dụng làn đường; vượt xe, chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường (trong và ngoài đô thị); tham gia giao thông đường bộ qua cầu, phà, trong hầm đường bộ và tại các nơi đường giao cắt; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ moóc….

– Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ. Cần phân biệt khái niệm người tham gia GTDB và người điều khiển phương tiện GTDB 

– Phương tiện giao thông đường bộ gồm: phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Trong đó:

+ Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi tắt xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

+ Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (gọi tắt là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.

Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đường bộ, khi tham gia giao thông đường bộ cũng phải chấp hành các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, xe máy chuyên dùng cũng được coi như phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông đường bộ.

Hậu quả: Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Như vậy chỉ khi có hậu quả xảy ra và hậu quả đó phải là gây thiệt hại cho tính mạng cho người khác, gây thương tích hoặc sức khỏe cho người khác với một tỷ lệ nhất định hoặc gây thiệt hại về tài sản ở mức độ nhất định thì người phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Khoản 2, 3 của điều luật quy định các tình tiết định khung tăng nặng.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.

+ Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

+ Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Về chủ thể của tội phạm: Do vậy, chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại các khoản 1, khoản 2, khoản 3,4 và khoản 5 Điều 260 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người có đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, có khả năng điều khiển hành vi theo hướng có lợi hay không có lợi cho xã hội, hoặc có khả năng xử sự khác không gây nguy hiểm cho xã hội

 

3.2 Điều khiển xe máy lạng lách đánh võng bị phạt bao nhiêu tiền?

Căn cứ Khoản 8 Điều 6 Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh; Điều khiển xe thành nhóm từ 02 xe trở lên chạy quá tốc độ quy định; Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn; ... Theo đó, người thực hiện hành vi lạng lách, đánh võng khi điều khiển xe máy có thể bị phạt tiền từ từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, ngoài ra người vi phạm còn có thể bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng.

 

3.3 Giao xe máy cho người chưa đủ tuổi điều khiển gây tai nạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Tại Điều 264 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Như vậy, người có hành vi giao xe máy cho người chưa đủ tuổi điểu khiển mà gây tai nạn giao thông và có các hậu quả theo quy định như trên, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Hình phạt cao nhất đối với tội này là 07 năm tù.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê trường hợp còn điều gì thắc mắc cầnt rao đỏi vui lòng gọi 19006162 hoặc gửi qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Trân trọng!