- 1. Lái xe lạng lách đãnh võng là gì?
- 2. Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lạng lách, đánh võng và việc xử lý người dưới 18 tuổi đi xe lạng lách, đánh võng
- 2.1 Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lạng lách, đánh võng
- 2.2 Xử lý người dưới 18 tuổi đi xe lạng lách, đánh võng
- 3. Chạy xe lạng lách, đánh võng có bị xử lý hình sự không?
- 3.1 Điều khiển xe máy lạng lách đánh võng gây tai nạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
- 3.2 Điều khiển xe máy lạng lách đánh võng bị phạt bao nhiêu tiền?
- 3.3 Giao xe máy cho người chưa đủ tuổi điều khiển gây tai nạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?
1. Lái xe lạng lách đãnh võng là gì?
Lái xe lạng lách đãnh võng là một hành vi đi xe nguy hiểm; đe dọa đến tính mạng của chính người điều khiển và cả những người tham gia giao thông khác; trên đường bộ. Lái xe lạng lách đãnh võng là một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả hành động lái xe mạo hiểm và nguy hiểm, thường được thực hiện trên đường công cộng nơi có lượng giao thông cao. Điều này bao gồm thay đổi tốc độ các làn đường, chuyển hướng đột ngột, vượt qua, vượt qua nơi cấm và thực hiện các hoạt động khác gây nguy hiểm cho các phương tiện giao thông khác và người tham gia giao thông . Hành vi này là vi phạm luật giao thông và có thể gây ra tai nạn nghiêm trọng và nguy hiểm cho cả người lái xe và người khác trên đường.
Lạng lách đánh võng là một hành vi đi xe nguy hiểm; đe dọa đến tính mạng của chính người điều khiển và cả những người tham gia giao thông khác; trên đường bộ. Hành vi này được biểu hiện như: đánh tay lái sang hai bên; làm cho xe chao nghiêng, đảo qua đảo lại như đưa võng trên đường; (đi xe) luồn lách, lạng bên nọ bên kia với tốc độ cao để vượt lên. Bởi tính chất của hành vi này; pháp luật đã dành ra những quy định riêng về chế tài. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa nắm rõ được lạng lách đánh võng phạt bao nhiêu tiền; cho nên vẫn còn thờ ơ, vi phạm vào các quy định của pháp luật.
2. Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lạng lách, đánh võng và việc xử lý người dưới 18 tuổi đi xe lạng lách, đánh võng
2.1 Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lạng lách, đánh võng
Theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP xử phạt vi phạm giao thông đường bộ và đường sắt quy định như sau: Điều 6. Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Căn cứ điểm b, khoản 8: Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị”.
2.2 Xử lý người dưới 18 tuổi đi xe lạng lách, đánh võng
3. Chạy xe lạng lách, đánh võng có bị xử lý hình sự không?
3.1 Điều khiển xe máy lạng lách đánh võng gây tai nạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Khi phân tích cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, một trong những yếu tố cần quan tâm là khách thể của tội phạm.
Khách thể của tội này là sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Để đấu tranh phòng chống vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bằng pháp luật hình sự, Nhà nước quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi này.
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan: Đó là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Quy định về tham gia giao thông đường bộ là quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (gọi tắt Luật GTĐB) về bảo đảm an toàn trong hoạt động người tham gia giao thông đường bộ như quy định về: Việc chấp hành báo hiệu đường bộ; tốc độ và khoảng cách giữa các phương tiện tham gia giao thông; sử dụng làn đường; vượt xe, chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường (trong và ngoài đô thị); tham gia giao thông đường bộ qua cầu, phà, trong hầm đường bộ và tại các nơi đường giao cắt; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ moóc….
– Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ. Cần phân biệt khái niệm người tham gia GTDB và người điều khiển phương tiện GTDB
– Phương tiện giao thông đường bộ gồm: phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Trong đó:
+ Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi tắt xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.
+ Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (gọi tắt là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đường bộ, khi tham gia giao thông đường bộ cũng phải chấp hành các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, xe máy chuyên dùng cũng được coi như phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông đường bộ.
Hậu quả: Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Như vậy chỉ khi có hậu quả xảy ra và hậu quả đó phải là gây thiệt hại cho tính mạng cho người khác, gây thương tích hoặc sức khỏe cho người khác với một tỷ lệ nhất định hoặc gây thiệt hại về tài sản ở mức độ nhất định thì người phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Khoản 2, 3 của điều luật quy định các tình tiết định khung tăng nặng.
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.
+ Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
+ Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Về chủ thể của tội phạm: Do vậy, chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại các khoản 1, khoản 2, khoản 3,4 và khoản 5 Điều 260 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người có đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, có khả năng điều khiển hành vi theo hướng có lợi hay không có lợi cho xã hội, hoặc có khả năng xử sự khác không gây nguy hiểm cho xã hội
3.2 Điều khiển xe máy lạng lách đánh võng bị phạt bao nhiêu tiền?