1. Trường hợp người lao động phải ngừng việc 

Điều 29 của Bộ Luật Lao động 2019 quy định về việc chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Theo đó, nếu người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động và thời gian làm công việc này vượt quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm, và phải ngừng việc, người sử dụng lao động sẽ phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật này.

Quy định này nhấn mạnh quyền của người lao động khi không đồng ý với việc chuyển đổi công việc tạm thời và giới hạn thời gian làm công việc khác mà người lao động không đồng ý. Nếu thời gian vượt quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm, và người lao động buộc phải ngừng việc, người sử dụng lao động sẽ phải chi trả lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Lao động 2019. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong tình huống chuyển đổi công việc mà họ không đồng ý.

Theo Điều 99 của Bộ luật Lao động 2019, quy định về tiền lương ngừng việc như sau:

Ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động:

Người lao động sẽ được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Ngừng việc do lỗi của người lao động:

Người lao động không được trả lương.

Những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc, sẽ được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Ngừng việc do sự cố về điện, nước hoặc vì lý do kinh tế:

Hai bên sẽ thỏa thuận về tiền lương ngừng việc theo các quy định sau:

- Trong trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống, tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu.

- Trong trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc, tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận, nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Như vậy, quy định này cung cấp các nguyên tắc cụ thể và công bằng trong việc xác định số tiền lương khi người lao động phải ngừng việc dưới các điều kiện khác nhau. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động và sự công bằng trong quá trình giải quyết các tình huống này.

 

2. Chế độ BHXH trong thời gian ngừng việc

Theo quy định tại khoản 8 Điều 42 của Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017, việc đóng bảo hiểm trong trường hợp ngừng việc của người lao động mang đến sự linh hoạt và bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong những tình huống đặc biệt như tạm giam, tạm giữ, tạm đình chỉ công tác để điều tra, xem xét kết luận có vi phạm hay không vi phạm pháp luật.

Điều 42 cụ thể quy định rằng nếu người lao động bị tạm giam, tạm giữ, hoặc tạm đình chỉ công tác để điều tra và xem xét kết luận vi phạm pháp luật, họ sẽ không bị đình chỉ đóng bảo hiểm y tế (BHYT). Thay vào đó, họ chỉ cần đóng 4,5% của 50% mức tiền lương tháng mà họ được hưởng theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm rằng người lao động vẫn duy trì quyền lợi BHYT trong thời gian bị tạm giữ hoặc tạm đình chỉ công tác, giúp họ và gia đình không bị mất quyền lợi y tế trong những tình huống khẩn cấp.

Ngược lại, nếu người lao động được tạm giữ được cơ quan có thẩm quyền xác định là không vi phạm pháp luật sau thời gian tạm giữ, họ sẽ được đóng bù Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Bảo hiểm tai nạn lao động (BHTNLĐ), và Bảo hiểm người nghèo (BNN) theo mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc. Điều này giúp khôi phục quyền lợi bảo hiểm xã hội và đảm bảo sự công bằng cho người lao động sau thời gian tạm giữ.

Hơn nữa, trong trường hợp người lao động ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng vẫn được hưởng tiền lương, việc đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động (BHTNLĐ), và bảo hiểm người nghèo (BNN) sẽ được thực hiện theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc. Điều này giúp duy trì quyền lợi bảo hiểm và bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong giai đoạn nghỉ việc.

Quy định của Điều 42 Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã tạo ra một cơ chế linh hoạt, bảo vệ quyền lợi của người lao động trong những tình huống đặc biệt, đồng thời thể hiện sự công bằng và tính nhân văn trong quản lý bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 6 Điều 30 của Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người đại diện phần vốn nhà nước không chuyên trách tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà nước sau cổ phần hóa; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (gọi tắt là tập đoàn, tổng công ty, công ty) được quy định theo nguyên tắc chế độ tiền lương đang áp dụng tại cơ quan, tổ chức mà họ đang công tác trước khi được cử làm đại diện phần vốn nhà nước. Đối với người đại diện chuyên trách tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty, họ sẽ được đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương mà tập đoàn, tổng công ty, công ty quyết định.

Trong trường hợp người lao động ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng vẫn được hưởng tiền lương, theo khoản 6 Điều 30 trên, cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải thực hiện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi xã hội của người lao động ngay cả trong tình huống ngừng việc.

Như vậy, quy định này đảm bảo rằng trong những trường hợp ngừng việc mà người lao động vẫn nhận được tiền lương, họ vẫn được đóng bảo hiểm xã hội, giữ vững quyền lợi và an sinh xã hội cho người lao động trong giai đoạn nghỉ việc. Đồng thời, cũng đề xuất một cơ chế linh hoạt, phù hợp với đặc thù của từng đối tượng người lao động tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình đóng bảo hiểm xã hội.

 

3. Thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương

Tại khoản 5 Điều 58 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, quy định rõ về thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động và cách tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương. Theo đó, có những điểm cụ thể như sau:

Nghỉ giữa giờ: Thời giờ nghỉ giữa giờ được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương theo quy định tại khoản 2 Điều 64 của Nghị định này.

Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc: Thời giờ nghỉ giải lao, tùy thuộc vào tính chất của công việc, cũng được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động: Thời giờ nghỉ cần thiết trong quá trình lao động, tính trong định mức lao động để đáp ứng nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người, cũng được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Thời giờ nghỉ đối với lao động nữ khi mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi: Thời giờ nghỉ của lao động nữ khi mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trong thời gian hành kinh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 137 của Bộ luật Lao động, cũng được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động: Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động được xác định và tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Với các điều khoản chi tiết này, quy định tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong việc xác định thời giờ làm việc được tính lương cho người lao động, đồng thời tạo điều kiện cho họ tham gia các hoạt động cần thiết trong quá trình lao động mà không làm giảm mức lương hưởng.

Trên đây là nội dung bài viết "Chế độ BHXH trong thời gian ngừng việc", nội dung trên mang tính chất tham khảo nếu quý khách hàng có vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi qua hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ, tư vấn. Rất mong được hợp tác với quý khách hàng. Cảm ơn và trân trọng ./.