1. Chi nhánh doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hay không?

Theo quy định tại Điều 84 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 về chi nhánh và văn phòng đại diện của pháp nhân, các điểm sau được cụ thể hóa:

- Chi nhánh và văn phòng đại diện được xem là các đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không có tư cách pháp nhân riêng. Điều này có nghĩa là chúng không thể tự mình tham gia vào các giao dịch dân sự mà phải hoạt động dưới sự ủy quyền và kiểm soát của pháp nhân mẹ.

- Chi nhánh có trách nhiệm thực hiện một phần hoặc toàn bộ chức năng của pháp nhân, nhưng không có khả năng đứng ra một cách độc lập trong các vấn đề pháp lý. Chúng hoạt động dưới sự điều hành của pháp nhân mẹ và chịu trách nhiệm trước pháp luật theo nguyên tắc của sự ủy quyền.

- Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện cho pháp nhân trong phạm vi được giao và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của pháp nhân. Điều này có thể bao gồm việc thực hiện các giao dịch hàng ngày, ký kết hợp đồng, hoặc tham gia vào các hoạt động kinh doanh nhất định mà pháp nhân đặt ra.

- Quá trình thành lập và chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện pháp nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật và công bố công khai. Điều này bao gồm việc đăng ký với các cơ quan chức năng và thông báo rõ ràng về việc thành lập, chấm dứt hoạt động của họ.

- Người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh hoạt động theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền. Họ có trách nhiệm đại diện và hành động thay mặt cho pháp nhân mẹ trong các vấn đề được ủy quyền, và phải tuân thủ các hướng dẫn và quy định của pháp luật.

- Pháp nhân chịu trách nhiệm và có quyền hợp pháp về các giao dịch dân sự do chi nhánh hoặc văn phòng đại diện thực hiện. Điều này đồng nghĩa với việc pháp nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi của chi nhánh hoặc văn phòng đại diện mà họ đã ủy quyền.

Theo quy định của pháp luật đã được nêu trên, có thể khẳng định rằng các chi nhánh của doanh nghiệp là các đơn vị dưới sự phụ thuộc của pháp nhân, không có đặc quyền pháp nhân riêng, và chúng chỉ có thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ chức năng của pháp nhân khi được ủy quyền bởi doanh nghiệp.

 

2. Chi nhánh có được quyền trực tiếp ký kết hợp đồng lao động không?

Hiện nay, pháp luật đã có các quy định cụ thể về chi nhánh doanh nghiệp, dựa trên Điều 44 của Luật doanh nghiệp năm 2020. Điều này đề cập đến việc quản lý các chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

- Chi nhánh đề cập đến các đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp. Chức năng đại diện của chi nhánh cần phải phù hợp và tương đương với ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp.

- Văn phòng đại diện là các đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có chức năng đại diện theo ủy quyền và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mà chúng đại diện. Tuy nhiên, văn phòng đại diện không được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Địa điểm kinh doanh là nơi mà các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành trực tiếp và cụ thể theo quy định của pháp luật.

Dựa theo quy định tại Điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015, tổ chức được xem là một pháp nhân khi nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

- Tổ chức có cơ cấu căn cứ theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Có tài sản độc lập, không phụ thuộc vào cá nhân và độc lập với các pháp nhân khác, có khả năng chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

- Có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập dưới tên của mình.

Có thể nói rằng cả chi nhánh và văn phòng đại diện đều được xem là các đơn vị phụ thuộc vào doanh nghiệp, với mọi hoạt động của chi nhánh phụ thuộc vào doanh nghiệp và được thực hiện dựa trên quan hệ ủy quyền của doanh nghiệp. Do đó, chi nhánh không được phép tham gia vào các quan hệ pháp lý một cách độc lập và không có tư cách pháp nhân.

Tương tự như quy định tại Điều 385 của Bộ luật dân sự năm 2015 về khái niệm hợp đồng, chi nhánh, mặc dù không được coi là một thực thể pháp lý độc lập, vẫn có khả năng tham gia vào việc kí kết hợp đồng và tham gia vào các quan hệ hợp đồng. Điều 84 của Bộ luật dân sự cũng quy định rằng người đứng đầu chi nhánh hoặc người đứng đầu văn phòng đại diện cần tuân thủ các nhiệm vụ được ủy quyền bởi pháp nhân mà họ đại diện cho.

Do đó, quyền của người đứng đầu chi nhánh để ký kết hợp đồng không tự nhiên tồn tại mà chỉ phát sinh khi có sự ủy quyền từ người đại diện chính thức của doanh nghiệp. Đối với việc ký kết các hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng lao động, người đứng đầu chi nhánh cần phải cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng minh cho sự ủy quyền từ doanh nghiệp mà họ đại diện.

Do đó, chi nhánh được coi là một phần của doanh nghiệp chính, có trách nhiệm thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, bao gồm cả việc đại diện theo ủy quyền. Ngành nghề kinh doanh của chi nhánh cũng phải phù hợp với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mẹ. Do đó, khi doanh nghiệp ủy quyền cho chi nhánh thực hiện các hoạt động ký kết hợp đồng với người lao động, chi nhánh sẽ có quyền tự mình ký kết các hợp đồng với họ.

Điều này có nghĩa là khi được ủy quyền bởi doanh nghiệp mẹ, chi nhánh hoàn toàn có thể trực tiếp ký kết các hợp đồng lao động với nhân viên. Việc này thuộc phạm vi ủy quyền mà chi nhánh được pháp lý cho phép thực hiện.

 

3. Chi nhánh doanh nghiệp muốn hoạt động thì thực hiện đăng ký như thế nào?

Theo quy định tại Điều 45 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, các hoạt động đăng ký chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, cũng như thông báo địa điểm kinh doanh được quy định cụ thể như sau:

- Doanh nghiệp được phép thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện, có thể ở trong nước hoặc nước ngoài. Doanh nghiệp có quyền thiết lập một hoặc nhiều chi nhánh, một hoặc nhiều văn phòng đại diện tại một địa phương dựa trên địa giới hành chính cụ thể.

- Đối với việc thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trong nước, doanh nghiệp cần nộp hồ sơ đăng ký tới các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh tại địa điểm mà chi nhánh hoặc văn phòng đại diện sẽ đặt. Hồ sơ này bao gồm các loại giấy tờ và tài liệu cơ bản sau đây:

    + Thông báo về việc thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện theo mẫu được quy định bởi luật pháp.

    + Bản sao của quyết định về việc thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, bản sao của biên bản họp trong quá trình thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp.

+ Bản sao các giấy tờ pháp lý của các cá nhân đại diện cho chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, bao gồm người đứng đầu.

- Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm và nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý của hồ sơ. Sau đó, họ sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng đại diện cho người nộp hồ sơ. Trong trường hợp hồ sơ thiếu thông tin hoặc không hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ thông báo bằng văn bản về các yêu cầu cần điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với quy định pháp luật. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận, họ cũng phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp, đồng thời cung cấp lý do chính đáng.

- Doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm và nghĩa vụ về việc đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trong vòng 10 ngày kể từ ngày có sự thay đổi. Trong thời gian 10 ngày kể từ khi quyết định địa điểm kinh doanh được đưa ra, doanh nghiệp cần thông báo địa điểm kinh doanh đến các cơ quan đăng ký kinh doanh.

Tóm lại, quy trình thành lập chi nhánh đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định và thực hiện đúng thủ tục như đã phân tích.

Bài viết liên quan: Chi nhánh có tư cách pháp nhân hay không nếu hạch toán độc lập? 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Chi nhánh có được quyền trực tiếp ký kết hợp đồng lao động? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết!