1. Theo tiêu chuẩn 9167:2012, chỉ tiêu phân loại đất mặn ở vùng đồng bằng ven biển như thế nào?
Chỉ tiêu phân loại đất mặn ở vùng đồng bằng ven biển để trồng lúa theo tiểu mục 4.1 Mục 4 của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9167:2012 được quy định như sau
| Tên nhóm loại | Loại đất | Chỉ tiêu phân loại |
| Đất mặn | 1 - Đất rất mặn | PHkcl lớn hơn 5,5 TSMT từ 1,0 đến 1,5% TLĐK |
| 2 - Đất mặn | PHkcl lớn hơn 5,5 TSMT từ 0,5 đến 1,0% TLĐK | |
| Đất mặn chua | 3 - Đất rất mặn chua | PHMTkcl nhỏ hơn 5,5 TSMT từ 1 đến dưới 1,5% TLĐK |
| 4 - Đất mặn chua | PHkcl nhỏ hơn 5,5 TSMT từ 0,5 đến dưới 1,0% TLĐK | |
| Đất chua mặn | 5 - Đất rất chua mặn | PHkcl nhỏ hơn 4,5 TSMT từ 0,5 đến dưới 1,0% TLĐK |
| 6 - Đất rất chua ít mặn | PHkcl nhỏ hơn 4,5 TSMT từ 0,25 đến dưới 0,5% TLĐK | |
| 7 - Đất chua ít mặn | PHkcl từ 4,5 đến 5,5 TSMT từ 0,25 đến dưới 0,5% TLĐK |
Phân loại đất dựa trên bản đồ nông hóa.
Chú thích các ký hiệu trong Bảng 1:
- TSMT: Tổng số muối tan
- TLĐK: Trọng lượng đất khô
- PHkcl: Độ chua trao đổi
2. Các loại đất ghi trong Bảng 1 theo Tiêu chuẩn được sắp xếp thành mấy loại?
Để thuận tiện trong quá trình rửa đất mặn, quy định của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9167:2012 đã sắp xếp các loại đất ghi trong Bảng 1 thành hai loại chính, tạo ra một hệ thống phân loại tổ chức và dễ dàng áp dụng. Cụ thể, theo tiểu mục 4.2 của Mục 4 trong tiêu chuẩn này, các loại đất được phân thành hai nhóm chính: đất mặn nhiều và đất mặn trung bình.
Nhóm 1: Đất mặn nhiều:
- Đất rất mặn: Đây là loại đất có nồng độ muối cao đặc biệt, thường gặp ở những vùng nước biển ngập mặn nhiều. Đất này có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cây trồng và yêu cầu quá trình rửa đất cẩn thận để loại bỏ muối.
- Đất rất mặn chua: Loại đất này có nồng độ muối cao nhưng cũng có tính chất chua, thường gặp ở những vùng có sự trao đổi muối khá phong phú. Sự kết hợp giữa muối và chất chua đòi hỏi các biện pháp rửa đất phải linh hoạt và hiệu quả.
- Đất rất chua ít mặn: Đây là loại đất có đặc tính chua cao nhưng nồng độ muối không quá lớn.
Nhóm 2 tiếp theo là nhóm đất mặn trung bình, bao gồm:
- Đất mặn: Loại đất này có một lượng muối vừa phải, không quá cao nhưng cũng không quá thấp.
- Đất mặn chua: Đất này có nồng độ muối vừa phải nhưng tính chất chua khá cao, thường gặp ở những vùng có sự trao đổi muối khá phong phú nhưng không đến mức gây hại cho cây trồng. Quá trình rửa đất ở đây cũng cần được thực hiện để cải thiện tính chất chua của đất.
- Đất chua ít mặn: Cuối cùng là loại đất có tính chất chua nhưng nồng độ muối không đáng kể,
Như vậy, việc phân loại đất mặn thành hai nhóm chính và các loại cụ thể trong mỗi nhóm không chỉ giúp người nông dân hiểu rõ hơn về đặc tính của đất mà còn cung cấp hướng dẫn rõ ràng cho quá trình rửa đất, giúp tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp trên các khu vực ven biển
3. Quy định về chất lượng nước dùng để rửa đất mặn ở vùng đồng bằng ven biển để trồng lúa
Chất lượng nước được sử dụng để rửa đất mặn ở vùng đồng bằng ven biển để trồng lúa là một yếu tố quan trọng quyết định đến thành công của quy trình sản xuất nông nghiệp. Theo quy định của Mục 5 trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9167:2012, độ mặn của nước sử dụng để rửa mặn phải đáp ứng tiêu chuẩn nhất định. Cụ thể, nồng độ muối trong 1 lít nước phải duới 1 gam. Tuy nhiên, đối với vùng đất mặn nhiều, hoặc khi nguồn nước khan hiếm, hoặc nước ở cuối hệ thống thủy lợi bị nhiễm mặn, nồng độ muối cho phép có thể tăng lên 1,5 gam trong 1 lít nước, nhưng phải tăng lượng nước rửa và số lần rửa để đảm bảo hiệu quả.
Hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn rửa mặn theo Phụ lục A của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9167:2012 cung cấp các chỉ dẫn cụ thể về cách thức tổ chức và thực hiện quá trình rửa mặn một cách hiệu quả:
Tổ chức thực hiện: Các cơ quan quản lý và khai thác công trình thủy lợi phải lập và điều hành kế hoạch tưới tiêu, bao gồm yêu cầu rửa mặn, theo từng vụ phù hợp với lịch trình sản xuất của khu vực. Đơn vị sản xuất cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nước để thực hiện tiêu chuẩn rửa mặn và tưới tiêu theo kế hoạch chung của vùng.
Thực hiện tiêu chuẩn rửa mặn đồng bộ với quy trình sản xuất:
Quá trình thực hiện tiêu chuẩn rửa mặn cần được đồng bộ hóa với quy trình sản xuất trên đồng ruộng. Điều này đảm bảo rằng mọi hoạt động, từ làm đất, tưới tiêu, gieo cấy, làm cỏ, bón phân, đến phòng trừ sâu bệnh, được tổ chức một cách hợp lý và khép kín. Quy trình sản xuất phải được sắp xếp sao cho việc thực hiện tiêu chuẩn rửa mặn không ảnh hưởng đến thời vụ, không gây chồng chéo thời gian, và hạn chế tác động đến các khâu khác.
Một ví dụ cụ thể về việc rửa mặn cho đất mặn nhiều trong vụ Chiêm xuân có thể được mô tả như sau:
- Tổng mức rửa: 4000 m3/ha
- Số lần rửa: 5 lần
- Kỹ thuật làm đất: Phơi ải
Trình tự thực hiện như sau:
- Rửa lần 1:
+ Ngả ải sau khi cày bừa vỡ, đưa nước vào ruộng đạt mức 15 cm.
+ Ngâm ruộng từ 3 đến 5 ngày đêm.
+ Sau đó, tháo bỏ hết nước cũ và đưa nước mới vào dưỡng ruộng.
+ Bón lót phân chuồng, cày bừa kỹ, bón đạm lân và gieo cấy.
- Rửa lần 2:
+ Thực hiện sau khi cây lúa đã được cấy khoảng 10 đến 15 ngày (thời kỳ lúa bén chân).
+ Làm cỏ, sục bùn đợt 1.
+ Lấy nước vào ruộng đạt bình quân 7 cm.
+ Ngâm từ 3 đến 5 ngày đêm.
+ Sau đó, tháo hết nước cũ ra và lấy nước mới vào dưỡng lúa.
+ Bón thúc đợt 1.
- Rửa lần 3:
+ Sau khoảng 10 đến 15 ngày kể từ lần rửa trước (thời kỳ đầu đẻ nhánh).
+ Tiếp tục làm cỏ, sục bùn đợt 2.
+ Lấy nước vào ruộng đạt bình quân 6 cm.
+ Ngâm từ 3 đến 5 ngày đêm.
+ Tháo nước cũ ra và lấy nước mới vào dưỡng lúa.
+ Bón thúc đợt 2.
- Rửa lần 4:
+ Sau 10 đến 15 ngày từ lần rửa trước (thời kỳ đầu đẻ rộ).
+ Làm cỏ, sục bùn đợt 3.
+ Lấy nước vào ruộng đạt mức bình quân 6 cm.
+ Ngâm từ 3 đến 5 ngày đêm.
+ Tháo hết nước cũ ra và lấy nước mới vào dưỡng lúa.
- Rửa lần 5:
+ Thay nước sau lần rửa 4, khi lúa đã vào thời kỳ đứng cái.
+ Lấy nước vào ruộng đạt mức bình quân 6 cm.
+ Ngâm từ 3 đến 5 ngày đêm.
+ Tháo hết nước cũ ra và lấy nước mới vào dưỡng lúa.
+Bón đón dòng.
Ngoài ra, sau mỗi lần rửa, cần thực hiện phun thuốc trừ sâu để đảm bảo sức khỏe của cây lúa và chống lại sự phát triển của sâu bệnh. Điều này giúp đảm bảo rằng quá trình sản xuất được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững trên đồng ruộng
Rửa mặn trong vụ mùa: Vụ mùa thường mưa bão bất thường, hay gây lũ lụt; vì vậy kế hoạch phải hết sức linh hoạt theo thời tiết, tranh thủ lấy nước phù sa vào các lần rửa; phải tận dụng nước mưa để dã mặn, ép mặn. Việc ngâm nước mưa để ngâm ruộng phải theo quy định sau:
- Ở thời kỳ lúa bén chân có thể cho phép ngập một nửa cây lúa không quá 5 ngày đêm.
- Ở thời kỳ đẻ nhánh và đứng cái có thể cho phép ngậm một nửa cây lúa không quá 4 ngày đêm.
Tưới dưỡng lúa Ngoài thời gian thực hiện rửa mặn, việc tưới dưỡng lúa có tác dụng hạn chế độ tái nhiễm của đất đai. Các công thức tưới được áp dụng cụ thể là:
Đối với nhóm lúa cây lúa thấp:
- Giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh: tưới nông 3 cm đến 6 cm
- Tưới sâu hãm đẻ 10 cm đến 15 cm trong 5 - 7 ngày - đêm
- Từ đứng cái đến chắc xanh: tưới vừa từ 6 cm đến 9 cm
Đối với nhóm lúa cây cao:
- Giai đoạn từ cấy đến cuối đẻ nhánh: tưới vừa từ 6 cm đến 9 cm
- Tưới sâu hãm đẻ 15 cm đến 20 cm trong 5 đến 7 ngày đêm. Từ đứng cái đến chắc xanh: tưới vừa từ 6 cm đến 9 cm.
Tiêu, tháo nước rửa: Nước rửa được tiêu theo 2 hướng: Một phần tiêu ngầm ra mương tiêu và một phần tiêu ngang trên mặt ruộng.
- Tiêu ngầm:
Trong thời gian ngâm ruộng mương tiêu phải được rút cạn thường xuyên nếu tiêu bằng máy bơm và rút cạn gián đoạn theo chân triều nếu tiêu bằng tự chảy. Ngoài thời gian tiêu nước rửa, phải tiếp tục rút nước tiêu khi điều kiện cho phép.
- Tiêu mặt:
Nếu không ảnh hưởng đến lịch trình sản xuất và mương tiêu còn rút được nước thì thời gian ngâm ruộng theo giới hạn trên. Nếu mương tiêu không rút được nước hoặc rút không triệt để thì thời gian ngâm ruộng phải thực hiện ở giới hạn dưới.
Ví dụ: Số ngày ngâm ruộng là 3 đến 5 ngày đêm thì:
- 3 ngày đêm là giới hạn dưới;
- 5 ngày đêm là giới hạn trên;
Chất lượng nước dùng để rửa Nhìn chung độ mặn của nước rửa phải dưới 1 gam trong 1 lít nước, riêng đối với vùng đất mặn nhiều, nguồn nước khan hiếm, hoặc cuối hệ thống thủy lợi bị nhiễm mặn thì độ mặn của nước cho phép có thể được 1,5 gam trong 1 lít nước, nhưng mức rửa nên tăng lên tương ứng. Độ đo của nước được đo bằng phương pháp phân giải Nitơrat bạc với máy đo độ mặn hiện trường hoặc thí nghiệm trong phòng.
Bón vôi bột: Đối với đất có độ chua PHkcl nhỏ hơn 4,5 thì khi cầy bừa vỡ phải bón vôi bột, lượng vôi bón từ 10 kg đến 15 kg trên sào Bắc bộ (360 m2).
Kiểm tra đánh giá đất đai:
Hàng năm khi kết thúc sản xuất vụ Mùa, cần kiểm tra đánh giá lại đất đai để vận dụng tiêu chuẩn rửa đất mặn tiếp theo cho phù hợp.
Phương án kiểm tra
- Kiểm tra trực tiếp trên đồng ruộng bằng máy đo hiện trường theo 2 chỉ tiêu: độ mặn và độ pH. Các điểm đo phải mang tính đại diện, đo trực tiếp ở nước ngầm trong ruộng hoặc rút dung dịch từ đất.
- Nơi nào không có máy đo thì dùng phương pháp quan trắc định tính: nhận xét quá trình sinh trưởng và năng suất từ 2 vụ Chiêm và Mùa liên tiếp, kết hợp với màu sắc, cấu tượng của đất đai.
Bài viết liên quan: Nhận xét và giải thích sự phân bố các vùng trồng lúa ở nước ta
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn