1. Làm gì khi hông thỏa thuận được chhia tài sản chung ?

Chào luật sư, em có câu hỏi mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Em đang muốn ly hôn và có một vài vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giúp đỡ ạ. Em kết hôn được 3 năm rồi, hiện tại cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bế tắc và nhiều mâu thuẫn mà vợ chồng không tìm được tiếng nói chung.
Chúng em vẫn chưa có con chung,em muốn viết đơn thuận tình ly hôn,nhưng hiện tại vợ chồng em không thỏa thuận được vấn đề chia tài sản. Trong quá trình chung sống chúng em chỉ có tài sản chung duy nhất là có tiết kiệm được số tiền là 400.000.000 triệu đồng chưa làm 3 sổ mỗi sổ 100 triệu còn lại trong tài khoản của chồng 100 triệu trong 3 sổ thì 2 cái đứng tên chồng còn 1 cái tên em và chồng em nói vì em là người muốn ly hôn nên e phải ra đi hai bàn tay trắng mà không được hưởng 1 đồng nào. Nhưng theo cách hiểu của em thì tài sản có được sau khi kết hôn là tài sản chung, em không yêu cầu phải chia đôi nhưng e cần chia cho em 100 triệu để em làm vốn ban đầu sau khi ly hôn, vì hiện tại chồng e vẫn có công việc ổn đinh sau khi ly hôn còn em thì không có, nhưng chúng em không thoả thuận được.
Vậy anh chị cho em hỏi trong trường hợp của em thì em nen làm tnao để đảm bảo quyền lơi của mình cũng như làm thế nào?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một quan hệ phái sinh mà Tòa án đồng thời phải giải quyết trong vụ án ly hôn. Các tranh chấp này khi phát sinh thường rất phức tạp và kéo dài bởi thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung nó gắn liền với quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng nên nhiều tình tiết của vụ án khó làm sáng tỏ bởi trong quá trình hôn nhân còn tồn tại, việc xác lập, thỏa thuận, định đoạt chia tài sản chung của vợ chồng là quan hệ kín mà chỉ vợ chồng họ mới nắm được.

2.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản giữa 2 vợ chồng sau khi ly hôn.

Về chế độ tài sản của vợ chồng, bên cạnh chế độ tài sản vợ chồng theo luật định, thì Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã thừa nhận thêm một chế độ so với LHN&GĐ 2000 là chế độ tài sản theo thỏa thuận. Chế độ tài sản thỏa thuận (hay còn gọi là chế độ tài sản ước định), là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật để thay thế cho chế độ tài sản luật định nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản này được quy định như một điểm mới rất tiến bộ trong LHN&GĐ Việt Nam năm 2014, tồn tại song song cùng với chế độ tài sản theo luật định (được áp dụng khi vợ chồng không xác lập chế độ tài sản theo thoả thuận). Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của LHN&GĐ.

Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận [1]. Thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn [2]. Vì vậy, khi ly hôn mà có yêu cầu chia tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét, nếu có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định áp dụng theo luật định, những thỏa thuận có hiệu lực vẫn được tôn trọng và thực hiện.

Bên cạnh chế độ tài sản theo thỏa thuận, thì Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục ghi nhận chế độ tài sản theo luật định là nên tảng trong chế độ tài sản chung của vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của LHN&GĐ.

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp chế độ tài sản vợ chồng theo luật định được quy định bao gồm các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng

Nguyên tắc đầu tiên trong việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn chính là sự thoả thuận. Tài sản của vợ chồng được chia như thế nào trước hết phụ thuộc vào chính ý chí của họ. “Thỏa thuận” có nghĩa là “đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận” [3]. Quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng đều tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể hay nói các khác là tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng đối với tài sản chung khi ly hôn. Quá trình giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung. Tất nhiên cần phải hiểu rằng sự thoả thuận này phải phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Sự tự nguyện thỏa thuận, ý chí đồng thuận của các bên luôn được tôn trọng dù trong bất kỳ trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Cụ thể: Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

– Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

– Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của LHN&GĐ để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Có thể thấy, việc cho phép vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về việc khi tài sản khi ly hôn có ý nghĩa rất lớn, thể hiện sự đổi mới tư duy lập pháp của các nhà làm luật. Việc thừa nhận này không chỉ đảm bảo quyền tự do định đoạt đối với quyền sở hữu tài sản, đáp ứng nhu cầu của cá nhân vợ, chồng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, số lượng các vụ việc về ly hôn ngày càng gia tăng, việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng không cần phải xác minh nguồn gốc cũng như giá trị tài sản của vợ chồng sẽ giúp Tòa án rất nhiều trong việc tiết kiệm thời gian và nguồn nhân lực.

Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng

Trên cơ sở của nguyên tắc vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc hưởng các quyền dân sự nói chung và quyền sở hữu tài sản nói riêng, trong trường hợp không có thỏa thuận phân chia tài sản, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia theo nguyên tắc chia đôi. Quy định này là hoàn toàn hợp lý vì hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng để đảm bảo nhu cầu đời sống chung của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu mà trong đó quyền của các đồng chủ sở hữu không được xác định đối với khối tài sản chung nên về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng sẽ chia đôi khi ly hôn.

Tuy nhiên, để đảm bảo việc phân chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện công bằng, phù hợp với thực tế, khoản 2 Điều 59 LHN&GĐ năm 2014 được hướng dẫn tại khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP quy định rằng khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của LHN&GĐ [5]. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung [6]. Sự đóng góp đó có thể trực tiếp bằng sức lao động hoặc tài sản mà người đó bỏ ra để tạo nên tài sản chung của vợ chồng như dùng tài sản riêng để sửa chữa, cải tạo, tu bổ làm tăng giá trị của tài sản chung, tài sản riêng của mỗi bên đem nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng…

Ngoài ra điểm mới rất đáng lưu ý trong LHN&GĐ năm 2014 chính là việc thừa nhận lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập. Đây được coi là quy định rất tiến bộ bởi thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, vì rất nhiều gia đình vẫn không coi trọng đóng góp của người phụ nữ trong việc quán xuyến, chăm lo công việc nội trợ gia đình, vì không có thu nhập, còn kinh tế sẽ thuộc sở hữu của người chồng làm ra. Sẽ là bất công đối với người phụ nữ khi công sức họ bỏ ra trong thời kỳ hôn nhân này sẽ không được coi là lao động có thu nhập khi đánh giá chia tài sản chung khi ly hôn. Quy định trên của LHN&GĐ đã phần nào khắc phục được hạn chế nêu trên, theo đó người chăm lo công việc gia đình vẫn được coi là lao động có thu nhập.

Nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chi bằng hiện vật hoặc chia theo giá trị được hưởng

Thực tiễn cho thấy phân chia tài sản cho vợ chồng khi ly hôn bao giờ cũng phức tạp, nguyên tắc này sẽ giúp cho Toà án chủ động hơn trong khi phân chia nhằm mục đích: chia tài sản không làm mất giá trị sử dụng của tài sản đó. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, Toà án phải chú trọng trong việc ưu tiên chia bằng hiện vật tương ứng, chỉ khi nào không thể chia bằng hiện vật thì mới tiến hành chia cho một bên nhận hiện vật và bên này có nghĩa vụ trích chia tương ứng giá trị bên kia được nhận.

2.2 Tư vấn cụ thể

Trong trường hợp của chị, thì việc người chồng của chị không chia tài sản gì cho chị là hoàn toàn trái với quy định và nguyên tắc được quy định tại Bộ luật hôn nhân và gia đình 2014. Do đó khi anh chị ly hôn mà không thỏa thuận được về việc chia tài sản và trong thời kì hôn nhân cả hai không có thỏa thuận chế độ tài sản chung thì chị sẽ được hưởng 50% số tài sản phát sinh trong thời kì hôn nhân, đó là 1/2 của 400.000.000 mà hai anh chị tiết kiệm được.

>> Xem thêm:  Ly thân là gì ? Quy định pháp luật về ly thân ?

2. Tài sản chung của vợ chồng cho người khác thuê được chia thế nào khi ly hôn?

Chào Luật sư, Tôi muốn hỏi luật sư một số điều như sau: Nhà tôi có 5 công đất ruộng, 3 năm về trước có cho mướn với giá 3tr5 với hợp đồng là 5 năm, nhưng hợp đồng 3 năm là với giá 3tr5 từ năm thứ 4 là hợp đồng với giá khác nếu thỏa thuận được giá thì cho mướn tiếp, không được giá thì xem như chấm dứt hợp đồng. Ngày 15 tháng 7 năm 2016 là chấm dứt hợp đồng 3 năm, đất do Ba tôi đứng tên, Mẹ tôi có nói với người thuê đất là "năm nay khi làm hợp đồng mới và đưa tiền thì phải có mặt đủ 2 vợ chồng, nếu chỉ đưa cho mình Ba tôi thì Mẹ tôi không đồng ý và không cho làm." Đất đang trong giai đoạn tranh chấp (Chuẩn bị tòa án xử).
Vậy nếu người thuê đất ngoan cố đưa tiền cho 1 mình Ba tôi và không có mặt của Mẹ tôi thì Mẹ Tôi có quyền thưa ra pháp luật không? Mẹ tôi cũng có đưa đơn ly hôn qua bên tòa và chờ ngày xét xử ly hôn. Như vậy Mẹ tôi phải làm như thế nào cho đúng ạ ?.
Nhờ Luật sư giải đáp với ạ. Mong nhận được phản hồi sớm từ Luật sư. Xin cám ơn!

Chia tài sản chung của vợ chồng khi không thỏa thuận được ?

Luật sư tư vấn Luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trường hợp bố mẹ bạn đang ly hôn tại Tòa thì Tòa án sẽ tiến hành chia tài sản chung của vợ chồng khi không thỏa thuận được theo nguyên tắc quy định tại Điều 59, và Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai".

Căn cứ theo quy định trên, tài sản chung của vợ chồng sẽ chia theo nguyên tắc dựa vào công sức đóng góp, tạo lập duy trì lên khối tài sản chung đó, và dựa vào hoàn cảnh sống thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn.

Theo thông tin bạn cung cấp, tài sản trên đứng tên bố mẹ bạn mà trước đó tài sản này đã cho người khác thuê với thời hạn thuê là 5 năm. Theo quy định tại khoản 3 Điều 705 Bộ luật Dân sự năm 2005:

Điều 705. Nghĩa vụ của bên cho thuê quyền sử dụng đất

"Bên cho thuê quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:

3. Cho thuê quyền sử dụng đất trong thời hạn được giao, được thuê;

Và Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết".

Do hợp đồng thuê quyền sử dụng đất chưa hết hạn và căn cứ theo quy định trên thì bố mẹ bạn vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến hết thời hạn thuê kể cả trường hợp bố mẹ bạn đang tiến hành ly hôn tại Tòa và bên thuê vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền thuê theo thỏa thuận, trừ trường hợp bố mẹ bạn và người cho thuê có thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng thuê đất, Sau khi hết thời hạn thuê thì tài sản trên bố mẹ bạn có toàn quyền sử dụng định đoạt đối với phần tài sản của mình mà đã được Tòa phân chia khi ly hôn

Về việc thanh toán tiền thuê đất :

Do đất thuê là tài sản chung của bố mẹ bạn do đó số tiền thuê sẽ phải trả cho người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tức là cả bố mẹ bạn. Và số tiền thuê này sẽ trả theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà chúng tôi đã phân tích bên trên.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

3. Chia tài sản chung khi ly hôn là căn nhà như thế nào ?

Chào luật Minh Khuê. Gia đình tôi có 4 người. Bố mẹ và 2 chị e gái. Do mâu thuẫn gia đình, bố tôi muốn ly hôn với mẹ tôi. Tài sản gồm 1 ngôi nhà đứng tên con gái đầu ( 24 tuổi ) vì thời gian làm nhà là bố tôi đang bên nước ngoài gửi tiền về;1 chiếc xe máy tên mẹ tôi và tài sản nội thất trong nhà.
Ngoài ra còn có tiền là do bố tôi bên nước ngoài gửi về. Bây giờ ly hôn thì tài sản sẽ giải quyết thế nào ?Toàn bộ tiền mua đồ là do bố tôi gửi về nhưng lại đứng tên con gái và mẹ. Bây giờ ra toà sẽ xử thế nào ?
Cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi có căn nhà đứng tên con thì phân chia như thế nào ?

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung "

Theo như quy định trên, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng làm ra do thu nhập lao động... Như vậy, trong trường hợp của gia đình bạn, cha bạn đi làm ở nước ngoài và gửi tiền về xây nhà, cũng như mua các đồ dùng, tài sản khác. Khối tài sản này được hình thành trong hôn nhân, có thể trên thực tế là do cha của bạn làm ra dựa trên sức lao động của mình, nhưng mẹ của bạn cũng góp phần trong việc hình thành khối tài sản này (ở nhà nội trợ, chăm sóc, nuôi dưỡng con, quản lý tài sản...). Như vậy, đối với tất cả tài sản mà cha của bạn làm ra dựa trên thu nhập của mình trong thời kỳ hôn nhân thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên riêng đối với quyền sử dụng đất bạn chưa nói đến nên việc khẳng định quyền sở hữu đất và tài sản gắn liền với đất cần được xem xét. Nếu căn nhà tiền thực tế là do bố làm ra nhưng bố đồng ý cho con gái ( đã thành niên ) đứng tên như vậy phải xác định là có sự kiện tặng cho.

Vậy lúc này căn nhà không còn là tài sản chung của bố mẹ để đưa ra phân chia khi ly hôn nữa mà là tài sản của con gái lớn. Những tài sản khác được chia theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình :

Viện dẫn theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Nguyên tắc giải quyết tài sản khi vợ chồng ly hôn được quy định cụ thể như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

+ Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình".

-> Như vậy, theo như quy định trên, về mặt nguyên tắc, tài sản chung của cha mẹ bạn sẽ được chia đôi nhưng sẽ dựa trên một số yếu tố trên như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, bảo đảm quyền lợi cho con, mức độ lỗi của các bên dẫn đến hậu quả ly hôn... Còn trong trường hợp của bạn, quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà là do con gái đứng tên, việc con được đứng tên chắc chắn phải có căn cứ theo quy định của pháp luật ( được tặng cho hoặc được thừa kế.. ), mọi thông tin bạn có thể cung cấp thêm để được hỗ trợ chính xác.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Phân chia tài sản chung, tài sản riêng sau khi ly hôn?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

4. Tư vấn phân chia tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

Xin chào luật sư, Tôi có vấn đề về luật hôn nhân cần sự tư vấn của luật sư. Rất mong nhận được sự hướng dẫn: Chị tôi có chồng & 2 con (tuổi 13 & 12). Hiện tại hai vợ chồng họ có ý định ly hôn, nhưng chị tôi có vài thắc mắc như sau:
1. Trước khi kết hôn, chị có một số tiền gởi ngân hàng. Sau khi kết hôn, số tiền đó tăng dần lên do bản thân chị kiếm được trong công việc. Người chồng công việc không ổn định. Về sự tích góp trong số tài sản trên có lẽ không có phần của người chồng. Vậy khi ly hôn, số tài sản trên có bị cho là tài sản chung trong quá trình hôn nhân? Nếu có, thì có biện pháp nào chứng minh đó là tài sản chỉ do một mình chị tôi tạo nên? (Người chồng biết tất cả thông tin về số tiền trên, gởi ở ngân hàng nào, lãi suất, kỳ hạn....do chị tôi nói) ?
2. Về hai đứa con, khi ly hôn sẽ giải quyết như thế nào ? Chúng tôi đang rất mong nhận được tư vấn của quý luật sư. Nếu cần tư vấn trực tiếp, chúng tôi có thể liên hệ ở đâu?
Chân thành cám ơn.
Tư vấn phân chia tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

Trả lời:

1. Về việc xác định khoản tiền gửi ngân hàng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hay tài sản riêng của chị:

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”

Do vậy theo quy định của pháp luật thì tài sản mà chị có trước thời kỳ hôn nhân thuộc tài sản riêng của vợ (chồng). Vì thế số tiền chị gửi ngân hàng trước khi kết hôn và lãi của số tiền đó sau này là thuộc tài sản riêng của chị.

Tuy vậy ở đây lưu ý đến vấn đề là tài sản sau khi chị kết hôn liên tục tăng lên do chị đóng góp thêm (Không tính số tiền gửi trước hôn nhân và lãi suất từ số tiền đó) thì phải xác định rằng tài sản tăng lên đó là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo đúng quy định tại Điều 27 Bộ luật Dân sự. Bởi mặc số tiền tăng lên được đóng góp bằng lương của chị nhưng bản thân tiền lương hàng tháng của chị cũng là tài sản chung của vợ và chồng. Trừ trường hợp chị chứng minh được rằng tài sản tăng lên đó là nhờ sự đóng góp hoàn toàn bằng tài sản riêng của chị: Như được cho riêng, thừa kế riêng… thì mới được coi là tài sản riêng. Còn nếu không chứng minh được thì mặc nhiên số tiền có thêm sau thời kỳ hôn nhân do chị đóng góp thêm vào vẫn là tài sản chung.

2. Về quyền nuôi con

Điểm d mục 11 Nghị quyết số 02/2000/NĐ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định cụ thể về vấn đề trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

“Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai. Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”.

Do vậy anh chị sẽ phải thỏa thuận về việc nuôi con, trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa sẽ quyết định dựa trên nguyên vọng con cái và tình hình thực tế mỗi người. Như chị trình bày thì anh không có công việc ổn định và đây sẽ là thuận lợi cho chị nếu muốn giành quyền nuôi con, nên nhiều khả năng chị có thể giành được quyền nuôi con. Do thông tin chị đưa ra khá chung chung nên rất khó có thể tư vấn cụ thể, còn vấn đề gì thắc mắc, chị vui lòng liên hệ đến số điện thoại tư vấn trực tiếp: 1900.6162.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

5. Chia tài sản chung khi ly hôn mà không có đăng ký kết hôn ?

Xin chào Luật sư! Anh chị tôi được 2 bên gia đình tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn năm 1995 đến nay được 2 cháu sinh năm 1996 (đã có gia đình) và 1 cháu sinh năm 2000. Giờ chồng chị tôi đòi bỏ.
Xin hỏi luật sư là anh chị tôi chỉ giải quyết nội bộ gia đình hay phải ra tòa làm các thủ tục ly hôn? Và tài sản chung có 1 ngôi nhà thì chia như thế nào ?
Xin cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Trong trường hợp anh chị của bạn, hai vợ chồng bạn chung sống với nhau không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do vậy, nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng Điều 15 và Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”

Như vậy, trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quan hệ vợ chồng, không cần phải tiến hành thủ tục ly hôn. Đối với việc phân chia tài sản chung và vấn đề con cái khi chia tay sẽ được giải quyết như đối với trường hợp hôn nhân hợp pháp và tuân theo các quy định đã trích dẫn ở trên.

Theo đó việc chia tài sản là mảnh đất của bạn về nguyên tắc nếu là tài sản riêng của ai vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; nếu là tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên. Nếu không thoả thuận được thì yêu cầu tán giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

Như vậy, nếu chị ban có đầy đủ chứng cứ chứng minh chồng không đóng góp tạo dựng nên ngôi nhà mà chỉ do một mình bạn, tức ngôi nhà là tài sản riêng thì bạn có quyền sở hữu. Nếu không thể chứng minh hoặc chứng cứ không đủ thuyết phục, tòa án sẽ phân chia tài sản theo công sức đóng góp của mỗi bên.

Cách chia tài sản thuộc sở hữu chung theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015:

Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân chia tài sản chung theo quy định nào ? Chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Theo luật HN&GĐ 2014, việc chia tài sản chung của hai vợ chồng sau ly hôn được quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Câu hỏi: Theo luật HN&GĐ 2014, thời hạn chia tài sản chung của hai vợ chồng sau ly hôn được quy định như thế nào

Trả lời:

Điều 39. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Câu hỏi: Hậu quả của việc chia tài sản chung sau ly hôn của vợ chồng là gì?

Trả lời:

Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.