Theo quy định pháp luật, việc tặng cho tài sản trước khi kết hôn và sau khi đăng ký kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng. Việc tặng cho trước kết hôn được xem là tài sản riêng, còn việc tặng cho sau khi đã kết hôn thì là tài sản chung trừ trường hợp bên tặng cho xác lập hợp đồng tặng cho riêng tài sản, nhà đất.

Luật Minh Khuê phân biệt 03 khái niệm tài sản cho tặng, tài sản riêng, tài sản chung vợ chồng làm cơ sở phân định tài sản khi ly hôn, như sau:

Thứ nhất, về tặng cho tài sản: Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, tặng cho là một loại giao dịch dân sự hay hiểu đơn giản đây là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. 

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện nay, tặng cho tài sản là giao dịch dân sự có đặc điểm: không có tính đền bù, tự nguyện, và nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu.

Việc tặng cho tài sản diễn ra khá phổ biến, trong quan hệ hôn nhân, tặng cho tài sản được phân loại thành: tài sản được tặng cho chung vợ chồng; tài sản được tặng cho riêng một bên vợ hoặc chồng.Đối với từng loại giao dịch tặng cho trong quan hệ hôn nhân, pháp luật lại quy định các hệ quả pháp lý khác nhau, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng cũng có sự khác biệt rõ rệt.

Thứ hai, về tài sản riêng vợ, chồng: Hiện nay, theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Như vậy, từ định nghĩa về tài sản riêng vợ chồng có thể xác định tài sản được tặng cho riêng vợ hoặc tặng cho riêng chồng được xác định là tài sản riêng vợ chồng. 

Thứ ba, về tài sản chung vợ chồng: Theo quy định Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản chung vợ chồng được hiểu là:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, theo quy định về tài sản chung vợ chồng, có thể hiểu, tài sản được tặng cho chung vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng.

Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của việc xác định tài sản vợ chồng được tặng cho chung hay riêng?

Có thể nói, việc xác định tài sản được tặng cho là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng vợ, chồng là một nội dung mang tính pháp lý rất quan trọng. Bởi đây là căn cứ để có thể xác định đúng, chính xác quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng khi ly hôn.

Trên thực tế, phần lớn các tranh chấp sau khi ly hôn liên quan đến tài sản mà rất nhiều trong số đó là việc chia tài sản mà vợ chồng được tặng cho. Những vụ việc liên quan đến hôn nhân gia đình thường rất phức tạp, bởi quan hệ hôn nhân, gia đình thường có yếu tố tình cảm và thông thường trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không thỏa thuận rõ ràng về vấn đề tài sản, nhất là tài sản hai bên vợ chồng được tặng cho dẫn đến việc tranh chấp kéo dài và khó giải quyết. 

Chính vì vậy, việc xác định tài sản được tặng cho là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng có ý nghĩa rất lớn về mặt pháp lý, giúp bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các bên; tạo sự chủ động trong việc quản lý tài chính gia đình; giúp tạo điều kiện thuận lợi hơn trong giao dịch; hạn chế được các tranh chấp về tài sản có thể phát sinh về sau,.....

 

1. Tài sản được tặng cho có phải chia sau khi ly hôn?

Theo quy định của pháp luật hiện nay, không phải lúc nào tài sản được tặng cho cũng phải chia sau khi ly hôn, việc có hay không phân chia tài sản được tặng cho của vợ chồng, trước hết căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên vợ chồng, trong trường hợp vợ chồng không thể thỏa thuận được với nhau về việc phân chia, thì được giải quyết theo quy định của pháp luật. Cụ thể, các trường hợp mà tài sản được tặng cho phải chia khi ly hôn:

Thứ nhât, tài được tặng cho riêng nhưng đã được nhập vào tài sản chung của vợ chồng

Thông thường, tài sản được tặng cho riêng vợ hoặc được tặng cho riêng chồng là tài sản riêng của vợ, chồng, tuy nhiên, theo quy định khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung." Như vậy, theo quy định trên, tài sản riêng của vợ, chồng nhưng vợ chồng có thỏa thuận xác định tài sản đó là tài sản chung vợ chồng thì được pháp luật ghi nhận là tài sản chung vợ chồng. Hiện nay, pháp luật không quy định bắt buộc phải thỏa thuận bằng văn bản trong trường hợp nhập tài sản riêng vào tài sản chung vợ chồng, tuy nhiên khoản 2 Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình quy định "Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó

Thứ hai, tài sản được tặng cho riêng nhưng bên kia có công sức đóng góp vào việc duy trì, bảo quản, phát triển tài sản đó

 Theo quy định, việc chia tài sản sau khi lý hôn chỉ được tiến hành đối với tài sản được xác định tài sản chung vợ chồng, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác. Hay có thể hiểu, tài sản riêng của vợ, chồng sẽ không được đem ra phân chia khi hai vợ chồng ly hôn nếu hai vợ chồng không có thỏa thuận gì khác. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng, việc vợ, chồng có đóng góp công sức vào việc giữ gìn, phát triển tài sản chung của bên còn lại thì trong nhiều trường hợp, khi có tranh chấp tòa án vẫn xét đến công sức đó để đưa ra quyết định thấu tình đạt lý.

Thứ ba, tài sản được tặng cho chung cả hai vợ chồng

Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: "Tài sản được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản hợp pháp khác." Vì vậy, khi ly hôn, mà vợ, chồng không tự thỏa thuận được về việc chia tài sản, có quyền yêu cầu toán án giải quyết, và thông thường, tài sản này sẽ được chia theo các nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp của các bên.

Thứ tư, tài sản được tặng cho nhưng không có giấy tờ chứng minh rõ ràng là tài sản riêng

Theo quy định khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 " Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung." Theo quy định trên, nếu một bên vợ hoặc chồng cho rằng tài sản tranh chấp là tài sản mà vợ hoặc chồng được tặng cho riêng, nhưng không thể xuất trình được bằng chứng cụ thể thì theo nguyên tắc suy đoán pháp lý, tài sản đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng và phải chia khi ly hôn.

Nộp đơn ly hôn ở đâu nếu vợ chồng không cùng nơi cư trú?

2. Án lệ liên quan đến tranh chấp về chia tài sản tặng cho khi ly hôn 

Trên thực tế rất nhiều các vụ việc liên quan đến việc chia tài sản tặng cho khi ly hôn, mà chủ yếu liên quan đên việc có sự mâu thuẫn trong việc xác định tài sản tặng cho là tài sản tặng cho riêng vợ, chồng hay tặng cho chung vợ chồng. Bởi, giao dịch tặng cho tài sản đối với những trường hợp này thường không được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản mà thường là sự thỏa thuận miệng giữa các bên liên quan. Thông thường, việc chứng minh tài sản được tặng cho chung, tài sản được tặng cho riêng thường được xác định dựa trên hợp đồng tặng cho tài sản hay giấy tờ tặng cho tài sản viết tay. Tuy nhiên, không phải lúc nào bắt buộc việc tặng cho tài sản được xác lập thành văn bản mới có cơ sở để xác định đó là tài sản được tặng cho riêng, hay tài sản được tặng cho chung vợ chồng, án lệ số 03/2016/AL là một ví dụ.

Khái quát nội dung của án lệ: Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.

Về nội dung liên quan đến tranh chấp tài sản: Chị Đỗ Thị Hồng và anh Phạm Gia Nam kết hôn năm 1992, có đăng ký tại UBND xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Sau chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2008 đến nay. Ngày 18-4-2009, chị Hồng khởi kiện xin ly hôn anh Nam, anh Nam cũng đồng ý.Trong quá trình chung sống thì vợ chồng có xây nhà hai tầng vào năm 2002 (năm 2005 xây thêm một tum để chống nóng), nhà được xây trên thửa đất 80m2 tại xóm Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín. Về nhà, vợ chồng thống nhất là tài sản chung hai vợ chồng. Riêng về đất thì các bên không thống nhất được với nhau. 

Theo chị Hồng: Đất là của gia đình ông Phạm Gia Phác (bố đẻ anh Nam) được cấp đất giãn dân năm 1992, sau đó gia đình ông Phác đã họp và tuyên bố cho vợ chồng chị diện tích đất, không làm giấy tờ. Năm 2001, ông Phác sang báo và anh Nam đi làm thủ tục cấp sổ đỏ nên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Phạm Gia Nam nên đất này là tài sản chung của vợ chồng. Chị yêu cầu được sử dụng nhà và đất nêu trên và thanh toán 1/2 giá trị đất và tài sản trên đất cho anh Nam như giá mà Hội đồng định giá đã đưa ra.

Theo anh Nam: Thửa đất này bố mẹ anh được cấp giãn dân năm 1992, bố mẹ chỉ cho vợ chồng ở nhờ chứ chưa cho vì gia đình anh còn đông anh em. Năm 2001, anh tự kê khai làm giấy tờ đất, gia đình anh không biết. Quan điểm của anh là trả lại đất cho ông Phác.

Theo ông Phác và bà Tài (bố mẹ anh Nam): Nguồn gốc đất là của ông được Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo cấp đất giãn dân năm 1992, ông có xây một căn nhà cấp 4 trên đó. Năm 1993, gia đình ông cho vợ chồng anh Nam, chị Hồng ra đó làm ăn sinh sống chứ không cho đất vì vợ ông bị liệt 15 năm nay, ông và anh Ơn (em trai anh Nam) phải chăm sóc, nguyện vọng của gia đình là để mảnh đất này cho anh Ơn vì anh Ơn chưa có chỗ ở. Khi gia đình được cấp đất giãn dân thì gia đình chỉ có 4 người là ông, bà Tài, chị Lữ, anh Ơn (còn anh Nam đã thoát ly khỏi địa phương). Khi chị Hồng xin ly hôn anh Nam thì gia đình mới biết anh Nam đã tự động sang tên đất từ năm 2001. Nay ông, bà yêu cầu anh Nam, chị Hồng trả lại đất cho ông, bà.

Nội dung án lệ: “Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vân Tảo thì năm 2001 xã tổ chức cho các hộ dân trong xã Vân Tảo đăng ký kê khai để xét cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng và các hộ kê khai tại trụ sở thôn xóm (BL 103). Tất cả các hộ dân trong xã đều được biết về chủ trương kê khai đất này. Ông Phác là chủ đất nhưng không đi kê khai. Anh Nam đang ở trên đất và là người đi kê khai làm thủ tục cấp giấy chng nhận. Ngày 21-12-2001 anh Nam được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U060645 đứng tên hộ ông Phạm Gia Nam. Vợ chồng anh chị đã xây nhà 2 tầng kiên cố vào năm 2002 và đến năm 2005 thì xây thêm tum tầng 3. Ông Phác và các anh chị em trong gia đình anh Nam đều biết việc xây dựng trên của vợ chng anh Nam chị Hồng, nhưng cũng không ai có ý kiến gì. Như vậy, từ khi được cấp giy chứng nhận (2001) cho đến khi có việc ly hôn của anh Nam, chị Hng (2009), gia đình ông Phác cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Phác là đã cho anh Nam và chị Hng diện tích đất nêu trên. Do đó, việc ông Phác và anh Nam khai rằng anh Nam tự ý kê khai giấy tờ đất, ông Phác không biết là không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị Hồng về việc gia đình ông Phác đã cho anh chị diện tích đất trên, là có cơ sở.

Do đó, việc Tòa án các cấp nhận định rằng anh Nam đi làm giấy tờ đất ông Phác không biết và việc chị Hồng khai gia đình chồng đã cho vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, để xác định diện tích đất 80m2 tại thôn Vân Hòa, xã Vân Tảo, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội là tài sản thuộc hộ gia đình ông Phạm Gia Phác; đồng thời buộc anh Nam, chị Hồng trả lại đất cho gia đình ông Phác, là không đúng, cần phải xác định diện tích đất tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng anh Nam, chị Hồng và khi chia phải coi anh Nam có công sức đóng góp nhiu hơn để chia theo công sức của mi bên và cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.”

 

3. Đất được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân chia thế nào?

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp về tài sản được tặng cho phải phân chia khi ly hôn. Luật Minh Khuê nhận thấy có một số câu hỏi chính như sau: "Thưa Luật sư, cha mẹ chuyển quyền sử dụng đất cho con gái ( đã lấy chồng) vậy sau khi ly hôn con gái có phải chia đất cho con rể không? Xin chân thành cảm ơn Luật sư!"

Trả lời:
Điều 33, Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về tài sản chung vợ chồng "gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung".
Điều 43 Luật này cũng quy định tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng..."
Như vậy, trường hợp thứ nhất: nếu quyền sử dụng đất là do bố mẹ vợ cho riêng con gái thì mặc dù trong thời kỳ hôn nhân nhưng đó vẫn là tài sản riêng của con gái. Đã là tài sản riêng của vợ thì theo khoản 4, điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 "4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này." cho nên sau khi ly hôn không phải chia với chồng.
Trường hợp thứ hai: Nếu quyền sử dụng đất bố mẹ cho riêng vợ nhưng vợ quyết định nhập khối tài sản đó vào tài sản chung thì sau khi ly hôn, tài sản là quyền sử dụng đất này sẽ được mang ra chia theo nguyên tắc quy định tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Riêng đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất thì áp dụng quy định tại điều 62 Luật hôn nhân gia đình 2014, cụ thể: "Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó."