1. Chia tài sản chung khi không đăng ký kết hôn như nào?

Thưa luật sư, cha tôi mất khi tôi 4 tuổi và mẹ ở vậy từ năm 1993. Đến năm 2010 thì gặp được một người và phát sinh tình cảm tiến tới hôn nhân. Trước khi người này chung sống với mẹ tôi thì mẹ tôi có nhà và đất, người này về chung sống với mẹ tôi không có đăng ký kết hôn và không nhập vào sổ hộ khẩu của gia đình tôi. Lúc về người này không có tài sản riêng.
Vậy cho tôi hỏi trường hợp như thế khi tòa giải quyết có tính đến thành quả lao động của người kia từ năm 2010 đến nay không? Người này lúc mới về cũng chịu khó làm ăn nhưng không bao lâu thì rượu chè không lo làm và về thường xuyên kiếm chuyện với mẹ tôi. Xin nói thêm lúc về chưa được 5 tháng thì đã viết đơn kêu mẹ tôi ký tên vào và đã được hòa giải ở xã ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Đăng ký kết hôn là thủ tục do pháp luật quy định nhằm xác lập quan hê hôn nhân giữa người nam với người nữ. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

“Kết hôn là việc nam và nữa xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật hộ tịch năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

Do đó, đăng ký kết hôn có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi công dân mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước.

Theo quy định tại khản 1 Điều 9 Luật hôn nhan và gia đình thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện ký theo quy định của Luật hộ tịch năm 2014 và pháp luật về hộ tịch. Cũng theo quy định tại khoản này, Luật đã quy định: Việc kết hôn không đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Về pháp lý, chỉ thông qua hành vi đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mới được xác lập, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ hôn nhân đó. Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cấp là một chứng thư có giá trị pháp lý xác nhận hai bên nam nữ đã phát sinh một quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong truyền thống hôn nhân – gia đình của các dân tộc Việt Nam tồn tại nhiều nghi thức kết hôn theo phong tục tập quán khác nhau, nhưng đăng ký kết hôn là ”nghi thức” duy nhất được pháp luật thừa nhận. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.

Hay nói cách khác, trường hợp nam, nữ chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân đó không được pháp luật thừa nhận và việc giải quyết hậu quả sẽ có những đặc thù riêng nhất định.

Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Như vậy trong trường hợp này, nếu mẹ bạn và người này chưa đăng ký kết hôn thì sẽ không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nếu họ yêu cầu tòa giải quyết cho ly hôn hoặc phân chia tài sản chung thì có thể giải quyết theo quy định tại Điều 15, 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Dẫn chiếu các quy định này:

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Theo quy định này, khi tòa giải quyết vấn đề tài sản chung giữa mẹ bạn và người này sẽ tính đến thành quả lao động của người này từ năm 2010 đến nay. Tuy nhiên người này cần chứng minh rõ được tài sản, công sức đóng góp của mình từ 2010 đến nay để được phân chia.

>> Xem thêm:  Người thờ cúng tổ tiên có được pháp luật ưu ái khi chia tài sản thừa kế không ?

2. Tư vấn về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn?

Kính chào Luật sư! Tôi mới lập gia đình vài tháng nhưng do tính cách không phù hợp nhau nên tiến tới ly thân. Bây giờ nếu tôi ly hôn thì số vàng trước đây tôi có cho bên nhà gái, và số vàng của 2 họ gia đình cho chúng tôi để lập nghiệp thì sẽ tính như thế nào ạ ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi về vấn đề này, Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Tư vấn về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Theo như quy định trên, về vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn vợ chồng bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận với nhau để chia cho hợp lý. Trong trường hợp vợ chồng bạn không thể thỏa thuận, thì Tòa án sẽ giải quyết chia tài sản chung cho các bạn dựa trên các yếu tố được quy định tại khoản 2 Điều luật trên. Đối với số vàng mà bạn đã cho gia đình nhà vợ trước đây khi kết hôn, nếu theo đúng truyền thống kết hôn tại địa phương bạn, việc trao vàng được xem như là "lễ cưới", thì trong quan hệ dân sự, đây là việc bạn đã tặng cho gia đình nhà vợ số tài sản trên. Nếu số vàng này sau đó vợ chồng bạn không được gia đình nhà vợ đồng ý trao lại, thì trong trường hợp ly hôn bạn không có quyền đòi lại số vàng này, vì việc tặng cho tài sản đã hoàn thành.

Còn đối với số vàng mà gia đình hai bên tặng cho khi các bạn kết hôn thì đây được xem là tài sản chung của vợ chồng bạn. Vì vậy, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về việc chia tài sản, nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ giải quyết theo những yếu tố như chúng tôi đã phân tích ở trên.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo các bài viết liên quan sau: Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

3. Tài sản chung một người có tự định đoạt được không ?

Cấp sơ thẩm phân định thắng thua dựa vào biên bản hòa giải chỉ có mỗi ý kiến của người chồng. Năm 1991, sau khi mua của bà N. bốn công đất tại xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, bà H. đã được UBND huyện Nhà Bè cấp “giấy đỏ”. Trên “giấy đỏ”, bà H. đứng tên đại diện cho cả hộ. Hơn chục năm sau, bà N. đã kiện bà H. ra tòa để đòi lại một phần đất đã bán.

Thua kiện vì lời khai của chồng

Bà N. bảo mình chỉ bán bốn công đất nhỏ, diện tích 2.500 m2. Phía bà H. lại bảo mình đã mua bốn công đất lớn, gần 4.000 m2. Do “giấy đỏ” hộ bà H. được cấp ghi diện tích gần 4.000 m2 nên bà N. từng yêu cầu bên mua điều chỉnh lại “giấy đỏ” nhưng chưa ngã ngũ. Ý muốn của bà N. là bên mua phải hoàn trả gần 1.500 m2 đất thừa.

Năm 2005, chồng bà H. từng hai lần ra UBND xã Phước Lộc để tham gia hòa giải tranh chấp và đều phát biểu theo hướng bất lợi cho vợ mình! Lần đầu, ông khẳng định mình chỉ mua bốn công đất nhỏ nên đồng ý trả lại toàn bộ phần đất thừa. Lần thứ hai, ông vẫn bảo mình chỉ mua bốn công đất nhỏ nhưng không chịu hoàn hết phần đất thừa mà đòi hưởng một nửa trong số đó.

Đầu năm 2007, do hòa giải không thành nên bà N. đã đứng đơn kiện bà H. ra tòa để đòi lại đất thừa. Tháng 8-2008, TAND huyện Nhà Bè mở phiên xử sơ thẩm tranh chấp trên. Tại tòa, vợ chồng bà H. khai phần đất mình mua là bốn công lớn. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm căn cứ vào hai biên bản hòa giải lập năm 2005 tại UBND xã Phước Lộc để phân xử tranh chấp và hẳn nhiên là phía bà H. bị thua kiện.

Gia đình bà H. kháng cáo với lý do không có đất thừa để trả cho bà N. Lại nữa, “giấy đỏ” cấp năm 2001 đã ghi rõ toàn bộ diện tích đất trên là của gia đình bà.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Biên bản hòa giải có hợp lệ?

Cả hai lần hòa giải tại UBND xã Phước Lộc chỉ có chồng bà H. tham gia. Hai biên bản của xã không hề nêu rõ lý do bà H. vắng mặt tại phiên hòa giải, cũng không nói rõ bà H. có ủy quyền cho chồng thay mặt mình tham gia hòa giải hay không.

Theo luật sư Nguyễn Đình Hùng (Đoàn luật sư TP.HCM), nếu bà H. không ủy quyền cho chồng được thay mặt mình tham gia hòa giải thì biên bản hòa giải không có giá trị. Bởi lẽ “giấy đỏ” được cấp cho hộ gia đình nên chồng bà H. chỉ có thể một mình tham gia hòa giải khi có văn bản ủy quyền của vợ và của các thành viên khác trong gia đình.

Theo luật sư Hùng, tòa án cần xem xét lại tính hợp lệ của biên bản hòa giải này. Trường hợp bà H. chưa ủy quyền cho chồng thì việc đại diện tham gia hòa giải của chồng bà H. là sai. Ý kiến của người chồng lúc này không phải là ý kiến của người đại diện chính thức của hộ gia đình. Do vậy, tòa án không thể dựa vào hai biên bản này để giải quyết tranh chấp. Khi đó, tranh chấp phải được trả về để xã hòa giải lại.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

4. Tư vấn phân chia tài sản chung và quyền được nuôi con khi ly hôn ?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng tôi cưới nhau cũng được hơn 2năm. Và có sinh được 1 cháu gái nay được 16 tháng tuổi. Từ lúc sinh đến bây giờ cháu được bà ngoại (mẹ tôi) chăm sóc. Từ lúc cưới đến bây giờ do có nhiều mâu thuẫn giữa 2 bên. Bị sỉ nhục bởi chồng tôi. Nên tôi không thể tiếp tục sống cùng chồng tôi nữa ?
Hiện chúng tôi có tài sản chung và đang được chị của chồng tôi mượn. Tôi muốn phân chua tài sản và giành được quyền nuôi con thì thế nào ạ ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Theo những thông tin mà bạn đã cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi hiểu rằng bạn mong muốn chia tài sản chung và giành quyền nuôi con.

Thứ nhất, về vấn đề phân chia tài sản chung.

Căn cứ điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HN&GĐ) quy định tài sản được coi là tài sản chung của vợ chồng nếu :

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Đồng thời bên cạnh đó, Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau :

"...gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân."

Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật thì những tài sản của hai bạn trong thời kỳ hôn nhân là của cả hai vợ chồng chính vì vậy khi ly hôn, cả hai đều có quyền và nghĩa vụ với phần tài sản chung này.

Căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này….”

Theo đó về nguyên tắc thì phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng sau khi ly hôn sẽ chia đôi.

Thứ hai, Về việc giành quyền nuôi con khi ly hôn được quy định trong điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Khi ly hôn, nếu hai bên vợ chồng thỏa thuận được về vấn đề nuôi con thì tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó. Nếu hai bên không tự thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Theo nguyên tắc, con dưới 36 tháng do người mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.

Trường hợp này, theo thông tin mà bạn cung cấp thì khi ly hôn con của bạn 16 tháng tuổi vì vậy theo quy định thì bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con ( căn cứ Khoản 3, Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014). Tuy nhiên,Tòa án sẽ xem xét và quyết định về vấn đề trực tiếp nuôi con dựa trên lợi ích của hai người con.

Tuy nhiên để chắc chắn hơn thì bạn cần chứng minh rằng mình đáp ứng được các điều kiện cơ bản phục vụ nhu cầu thiết yếu để có thể trực tiếp nuôi con: thu nhập ổn định, chỗ ở hợp pháp, thời gian chăm con,...

Như vậy, muốn giành quyền nuôi con, bạn phải chứng minh mình có điều kiện nuôi con hơn chồng của bạn. Những điều kiện cần chứng minh là về vật chất và tinh thần cụ thể như sau:

- Điều kiện về vật chất (kinh tế):

Chị phải chứng minh được mình có đầy đủ các điều kiện về vật chất như:

+ Thu nhập thực tế

+ Công việc ổn định

+ Có chỗ ở ổn đinh(nhà ở hợp pháp)

+ ... và các vấn đề khác.

Theo đó Chị phải có điều kiện về tài chính hơn so với chồng, mức thu nhập, nơi cư trú của bạn phải đủ để đảm bảo điều kiện về nuôi dưỡng, học tập và vui chơi cho cháu bé.

Để chứng minh được vấn đề này chị cần cung cấp cho Toà án những giấy tờ như: hợp đồng lao động, bảng lương, giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu đất, sở hữu nhà (sổ đỏ),...

- Điều kiện về tinh thần:

Các điều kiện về tinh thần bao gồm: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi, giải trí, nhân cách đạo đức của cha mẹ...

Như vậy, để giành quyền nuôi con bạn phải chứng minh được các điều kiện mọi mặt mà bạn giành được cho con.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

5. Xác định tài sản chung khi chồng trúng sổ số độc đắc ?

Em chào luật sư, Em đang thắc mắc vấn đề này mong luật sư giúp đỡ. Vợ chồng em về sống với nhau đầu năm 2011, đến cuối năm 2011 bọn em tổ chức đám cưới. Sau khi cưới được 1 tháng, chồng em trúng sổ số độc đắc rồi đầu năm 2012 vợ chồng em mới đăng ký kết hôn. Đến năm 2014 vợ chồng em mua được miếng đất 96m² và tháng 1 năm 2015 vợ chồng em xây nhà.
Vậy giờ ly hôn em có được hưởng một nửa tài sản mà vợ chồng em đang có không luật sư ? Và em có quyền nuôi con gái 4 tuổi không ạ ?
Em cảm ơn luật sư !

Tư vấn phân chia tài sản chung và quyền được nuôi con khi ly hôn

Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

- Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

- Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

-> Việc chồng bạn trúng sổ số khi 2 bạn chưa đăng ký kết hôn được xác định là tài sản riêng của chồng.Tuy nhiên, từ các quy định trên, mảnh đất do vợ chồng bạn mua năm 2014 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên khi chia sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố quy định tại Khoản 2 Điều 59.

Về quyền nuôi con sau khi ly hôn thì trước hết sẽ do hai bên thỏa thuận sẽ giao con cho ai trực tiếp nuôi. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, theo đó tòa án sẽ căn cứ vào các điều kiện vật chất, tinh thần và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con xem ai có khả năng hơ thì sẽ giao con cho người đó trực tiếp nuôi.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại