Vậy cho tôi hỏi trường hợp như thế khi tòa giải quyết có tính đến thành quả lao động của người kia từ năm 2010 đến nay không? Người này lúc mới về cũng chịu khó làm ăn nhưng không bao lâu thì rượu chè không lo làm và về thường xuyên kiếm chuyện với mẹ tôi. Xin nói thêm lúc về chưa được 5 tháng thì đã viết đơn kêu mẹ tôi ký tên vào và đã được hòa giải ở xã.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Nội dung phân tích:

Đăng ký kết hôn là thủ tục do pháp luật quy định nhằm xác lập quan hê hôn nhân giữa người nam với người nữ. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Kết hôn là việc nam và nữa xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật hộ tịch năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Do đó, đăng ký kết hôn có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi công dân mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước.

Theo quy định tại khản 1 Điều 9 Luật hôn nhan và gia đình thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện ký theo quy định của Luật hộ tịch năm 2014 và pháp luật về hộ tịch. Cũng theo quy định tại khoản này, Luật đã quy định: Việc kết hôn không đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Về pháp lý, chỉ thông qua hành vi đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mới được xác lập, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ hôn nhân đó. Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cấp là một chứng thư có giá trị pháp lý xác nhận hai bên nam nữ đã phát sinh một quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong truyền thống hôn nhân – gia đình của các dân tộc Việt Nam tồn tại nhiều nghi thức kết hôn theo phong tục tập quán khác nhau, nhưng đăng ký kết hôn là”nghi thức” duy nhất được pháp luật thừa nhận. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.

Hay nói cách khác, trường hợp nam, nữ chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân đó không được pháp luật thừa nhận và việc giải quyết hậu quả sẽ có những đặc thù riêng nhất định.

Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Như vậy trong trường hợp này, nếu mẹ bạn và người này chưa đăng ký kết hôn thì sẽ không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nếu họ yêu cầu tòa giải quyết cho ly hôn hoặc phân chia tài sản chung thì có thể giải quyết theo quy định tại Điều 15, 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Dẫn chiếu các quy định này:

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Theo quy định này, khi tòa giải quyết vấn đề tài sản chung giữa mẹ bạn và người này sẽ tính đến thành quả lao động của người này từ năm 2010 đến nay. Tuy nhiên người này cần chứng minh rõ được tài sản, công sức đóng góp của mình từ 2010 đến nay để được phân chia.

Tham khảo bài viết liên quan:

Chia tài sản sau khi ly hôn

Chia tài sản sau khi ly hôn?

Phân chia tài sản ly hôn?

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với thắc mắc của bạn về vấn đề chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật.