- Bất động sản, gồm: Nhà ở, căn hộ chung cư; Quyền sử dụng đất (đất thổ cư, đất nông nghiệp, đất vườn, đất thương mại dịch vụ) cùng các tài sản gắn liền với đất.
- Động sản có giá trị đăng ký quyền sở hữu, gồm: Xe ô tô, xe máy, phương tiện giao thông khác; Tàu thuyền, phương tiện thủy nội địa (nếu có).
- Tài sản tài chính và giấy tờ có giá: Sổ tiết kiệm, tiền mặt, ngoại tệ; Cổ phần, cổ phiếu, phần vốn góp trong công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân; Trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, chứng chỉ quỹ.
1. Tài sản, nhà đất thừa kế sau hôn nhân là chung hay riêng?
Căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung, và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Tuy nhiên, để phân định chính xác tài sản thừa kế trong thời kỳ hôn nhân là chung hay riêng, cần chiếu theo Điểm a Khoản 1 Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 33, Điều 39, Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
- Di sản thừa kế được để lại cho cả hai vợ chồng (ví dụ: Người để lại di sản lập di chúc chỉ định rõ tặng cho cả hai vợ chồng, hoặc theo pháp luật cả hai cùng là hàng thừa kế chung đối với một số quan hệ đặc thù).
- Tài sản thừa kế hoặc hoa lợi, lợi phát sinh từ tài sản thừa kế riêng mà vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào tài sản chung.
Ví dụ là tài sản chung: Bố mẹ chồng mất đi không để lại di chúc. Người chồng được hưởng một phần di sản thừa kế theo pháp luật. Khi các bên tiến hành khai nhận di sản thừa kế, người chồng đồng ý hoặc hai vợ chồng thống nhất đưa tài sản này vào khối tài sản chung phục vụ sinh hoạt gia đình, hoặc hoa lợi sinh ra từ di sản đó được sử dụng là nguồn thu nhập chính của gia đình, thì tài sản hoặc giá trị đó có thể được xem xét nhập vào khối tài sản chung.
- Di sản thừa kế chỉ dành riêng cho một mình vợ hoặc một mình chồng (được thể hiện qua di chúc ghi rõ tên cá nhân người vợ hoặc người chồng, hoặc theo pháp luật di sản chỉ thuộc về một cá nhân do quan hệ huyết thống/nuôi dưỡng trực tiếp). Căn cứ theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc về riêng người đó.
- Tài sản được chia riêng theo bản án/quyết định của tòa án hoặc thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp.

2. Câu hỏi thường gặp về tài sản thừa kế sau hôn nhân
Tài sản thừa kế của chồng vợ có được hưởng không?
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc vợ có được hưởng quyền lợi đối với đất thừa kế của chồng hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc mảnh đất đó là tài sản riêng của chồng hay là tài sản chung của hai vợ chồng. Dưới đây là phân tích chi tiết dựa trên các quy định pháp lý và trường hợp thực tế.
Căn cứ theo Điều 33, Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015:
Trường hợp đất thừa kế là tài sản riêng của chồng (Vợ không tự động được chia quyền sở hữu): Nếu chồng được thừa kế đất trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân theo di chúc chỉ định cho riêng chồng, hoặc theo pháp luật mà chỉ một mình chồng là người thừa kế hợp pháp (ví dụ: đất của gia đình nhà chồng để lại riêng cho con trai), thì mảnh đất đó là tài sản riêng của chồng. Trong trường hợp này, người vợ không có quyền sở hữu chung đối với mảnh đất đó. Khi ly hôn, người vợ không được chia quyền sử dụng đất này (trừ trường hợp có công sức đóng góp làm tăng giá trị đất).
- Ví dụ trường hợp vợ không được hưởng quyền sử dụng đất): Chồng được bố mẹ đẻ tặng cho một thửa đất bằng di chúc ghi rõ tên một mình người chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thửa đất này đứng tên một mình chồng. Khi ly hôn, đây là tài sản riêng của chồng, người vợ không được chia thửa đất này.
Trường hợp đất thừa kế trở thành tài sản chung của vợ chồng (Vợ được hưởng quyền sở hữu): Người để lại di sản lập di chúc tặng cho quyền sử dụng đất cho cả hai vợ chồng. Dù là đất thừa kế riêng của chồng, nhưng trong thời kỳ hôn nhân, hai vợ chồng có văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng thành tài sản chung và đã thực hiện thủ tục đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước. Khi đó, đất thuộc sở hữu chung và vợ chồng có quyền ngang nhau.
- Ví dụ trường hợp vợ được hưởng/đồng sở hữu: Bố mẹ chồng qua đời để lại di sản là thửa đất, nhưng trong văn bản khai nhận di sản hoặc di chúc, bố mẹ chồng thể hiện rõ để lại quyền sử dụng đất cho cả con trai và con dâu (cả hai vợ chồng). Lúc này, đất đứng tên cả hai vợ chồng và là tài sản chung, khi ly hôn sẽ được chia theo nguyên tắc tài sản chung.
Trường hợp đất thừa kế riêng nhưng có sự đóng góp của vợ: Nếu đó là tài sản riêng của chồng, nhưng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cùng nhau bỏ công sức, tiền bạc để tôn tạo, cải tạo, xây dựng công trình trên đất làm cho giá trị của thửa đất tăng lên, thì khi ly hôn, người vợ được thanh toán phần công sức đóng góp/giá trị tài sản tăng thêm đó.
Lưu ý: Quyền thừa kế theo hàng thừa kế tong trường hợp người chồng không may qua đời, người vợ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của chồng (theo Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015). Lúc này, dù thửa đất đó là tài sản riêng của chồng trước khi mất, người vợ vẫn được hưởng một phần di sản thừa kế từ chồng theo quy định pháp luật (chia đều cùng các đồng thừa kế khác ở hàng thừa kế thứ nhất như con chung, cha mẹ đẻ của chồng). Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
Tài sản thừa kế trong thời kỳ hôn nhân có phải chia khi ly hôn?
Trả lời: Theo quy định pháp luật Việt Nam, việc tài sản thừa kế trong thời kỳ hôn nhân có phải chia khi ly hôn hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc tài sản đó được xác định là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng. Căn cứ theo Điều 33, Điều 43 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc phân chia tài sản thừa kế khi ly hôn có thể xảy ra 03 trường hợp cụ thể như sau:
Trường hợp là tài sản chung (Phải chia khi ly hôn): Nếu tài sản thừa kế được xác định là tài sản chung của vợ chồng (do được người để lại di sản chỉ định cho cả hai vợ chồng, hoặc do hai vợ chồng thỏa thuận nhập tài sản thừa kế riêng thành tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân), thì khi ly hôn, tài sản này thuộc khối tài sản chung và được đem ra chia. Nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn sẽ căn cứ vào hoàn cảnh của gia đình, công sức đóng góp của từng bên (tạo lập, duy trì, phát triển tài sản), bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ/chồng và con chưa thành niên.
- Ví dụ phải chia: Cũng là mảnh đất trên, nhưng trong thời kỳ hôn nhân, hai vợ chồng cùng nhau vay mượn tiền và bỏ công sức xây lên một tòa nhà kiên cố trên đất, đồng thời có văn bản thỏa thuận hoặc ghi nhận đây là tài sản chung. Khi ly hôn, giá trị nhà và quyền sử dụng đất này sẽ được đưa vào khối tài sản chung để giải quyết phân chia.
Trường hợp là tài sản riêng (Không phải chia, thuộc quyền sở hữu của cá nhân): Nếu tài sản thừa kế chỉ thuộc về riêng một người vợ hoặc một mình chồng (theo di chúc riêng, theo quy định pháp luật về thừa kế riêng, hoặc chưa từng nhập vào tài sản chung), thì khi ly hôn, tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của riêng người đó và không phải chia. Người sở hữu tài sản riêng có toàn quyền định đoạt đối với tài sản của mình mà người kia không có quyền yêu cầu chia.
- Ví dụ không phải chia: Trong thời kỳ hôn nhân, người vợ được bố mẹ đẻ tặng cho riêng một mảnh đất (có di chúc và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một mình người vợ). Khi ly hôn, mảnh đất này được xác định là tài sản riêng của người vợ và người chồng không có quyền yêu cầu chia mảnh đất đó.
Trường hợp tài sản riêng đã được đưa vào sử dụng, tôn tạo hoặc sát nhập: Nếu tài sản thừa kế riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung, hoặc có sự đóng góp của bên còn lại để sửa chữa, nâng cấp, làm tăng giá trị tài sản trong thời kỳ hôn nhân, thì khi ly hôn, bên có công đóng góp được thanh toán phần giá trị đóng góp đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tài sản thừa kế riêng của chồng khi chồng mất thì tài sản thuộc về ai?
Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, tài sản thừa kế riêng của người chồng (tài sản mà người chồng được thừa kế riêng trong hoặc trước thời kỳ hôn nhân) khi người chồng qua đời sẽ được xác định là di sản thừa kế. Di sản này sẽ thuộc về những người được chỉ định trong di chúc hoặc được phân chia theo quy định của pháp luật nếu không có di chúc.
Căn cứ theo Điều 612, Điều 624 và Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc giải quyết tài sản thừa kế riêng của chồng khi mất được chia thành hai trường hợp:
Trường hợp có di chúc hợp pháp (Thừa kế theo di chúc): Tài sản sẽ thuộc về những cá nhân, tổ chức được người chồng chỉ định nhận di sản trong di chúc hợp pháp. Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (gồm: vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động, cha, mẹ của người chết) vẫn được hưởng một phần di sản bằng ít nhất hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật, ngay cả khi di chúc không cho họ hưởng hoặc cho hưởng ít hơn mức đó.
Trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không có hiệu lực (Thừa kế theo pháp luật): Tài sản sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chồng theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chồng.
- Quyền của người vợ: Người vợ là một đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Do đó, người vợ vẫn được hưởng một phần giá trị tài sản riêng của chồng cùng với các đồng thừa kế khác (như con chung, con riêng hợp pháp, cha mẹ đẻ của chồng), chia theo nguyên tắc ngang bằng nhau.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn, giải quyết tranh chấp di sản thừa kế gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.