- 1. Cho vay 3 triệu lấy lãi suất mỗi tháng 150 nghìn có bị coi là bị vay nặng lãi không ?
- 2. Cho vay nặng lãi phải chịu trách nhiệm như thế nào trước pháp luật ?
- 3. Thế nào là cho vay nặng lãi và giải quyết cho vay nặng lãi ?
- 4. Cho vay với lãi xuất bao nhiêu thì bị coi là cho vay nặng lãi ?
- 5. Có đòi nợ không trong trường hợp đã làm giấy xác nhận công nợ ?
1. Cho vay 3 triệu lấy lãi suất mỗi tháng 150 nghìn có bị coi là bị vay nặng lãi không ?

Luật sư tư vấn quy định về hành vi cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.6162
Trả lời:
Một là, về lãi suất vay theo quy định của Điều 468 bộ luật dân sự 2015
Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2. Cho vay nặng lãi phải chịu trách nhiệm như thế nào trước pháp luật ?
(4).jpg)
Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Một là, về lãi suất vay theo quy định của Điều 468 bộ luật dân sự 2015
Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Thế nào là cho vay nặng lãi và giải quyết cho vay nặng lãi ?
Sau đó thì người ta đem đơn lên kiện kèm theo tờ giấy nợ 200 triệu (nhưng thực chất anh trai em chỉ nợ có 140 triệu, tờ giấy nợ 200 triệu đó là tờ giấy cũ). Sự thật được khai với nội dung như sau: "Tôi và chị Nguyễn Thị Bích H. quen biết cũng vài năm, giữa tôi và chị thường xuyên thực hiện các giao dịch vay mượn tiền bạc để kinh doanh, làm ăn.
Vì chỗ làm ăn quen biết nên chúng tôi giao dịch không ký kết giấy tờ, sau mỗi lần vay mượn tiền của chị tôi đều trả đủ. Cho đến khoảng cuối năm 2015, tôi có mượn chị số tiền là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu đồng), đến ngày 18/11/2015 tôi có mượn thêm 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng) và ký với chị giấy mượn tiền tại ... (địa điểm) với tổng số tiền tôi nợ chị là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng), tờ giấy này tôi giao cho chị giữ. Ngoài tờ giấy nợ, chị còn giữ của tôi một bộ bàn ghế và một chiếc xe tải để làm vật siết nợ. Khoảng nửa tháng sau tôi có mượn thêm chị 50.000.000 (năm mươi triệu đồng), tổng cộng tôi nợ chị 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng) và tôi có đóng tiền lãi cho chị cho đến cuối tháng 1 năm 2016. Do làm ăn thua lỗ nên vào cuối tháng 12 năm 2015 tôi có nói anh Hoàng Văn N. đi mượn tiền cho tôi. Cụ thể anh N. đã mượn của anh Phan Đức T. (em chồng của chị Nguyễn Thị Bích H.) số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) với lãi suất 6% 1 tháng và ký với anh T. tờ giấy nợ, theo nội dung giấy nợ thì anh T. cho tôi thời gian là 2 tháng trả hết nợ cả vốn lẫn lãi, nếu không trả đủ thì sẽ siết xe ô tô con. Rạng sáng ngày 30/1/2016 vợ chồng chị Nguyễn Thị Bích H. và anh Phan Đức T. cùng với khoảng 10 người nữa tiến vào nhà tôi yêu cầu tôi giao xe, ban đầu tôi đã không đồng ý vì theo như hợp đồng ký với anh T. thì thời hạn giao xe chưa đến và tôi vẫn còn khả năng trả nợ cho anh. Nghe theo lời khuyên của gia đình, tôi đồng ý cấn cho chị H. 1 chiếc xe con màu trắng hiệu Genesis mang biển số 81A-0894x do Hoàng Văn N. đứng tên với trị giá là 670.000.000 (sáu trăm bảy mươi triệu đồng).
Theo như lời chị H. nói thì số tiền lãi tôi phải đóng cho chị là 32.000.000 (ba mươi hai triệu đồng) và đóng lãi cho anh T. là 8.000.000 (tám triệu đồng). Tổng số tiền tôi phải trả cho chị H. và anh T. gồm vốn lẫn lãi là 490.000.000 (bốn trăm chín mươi triệu đồng). Tôi và chị có thoả thuận, số tiền cấn xe sẽ trả tổng số tiền tôi nợ chị H., anh T. và số tiền tôi nợ Ngân hàng là 330.000.000 (ba trăm ba mươi triệu đồng). Sau khi cấn xe tôi còn nợ chị 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu đồng) và tôi có viết cho chị một giấy nợ mới với số tiền nợ như trên, và giao xe qua cho một người khác tên X đứng tên, lúc đó có người làm chứng bao gồm: ba tôi, mẹ tôi, anh trai, cháu tôi và một số người khác. Sau khi viết giấy nợ, tôi còn nói chị huỷ bỏ các tờ giấy nợ trước và chị đã hứa với tôi sẽ huỷ bỏ những tờ giấy nợ đó chứ không giữ lại, do chủ quan nên tôi đã tin chị, nhưng chị H. đã không làm theo những lời mình hứa với tôi. Sau khi cấn xe con cho chị, tôi có sang lấy chiếc xe tải mà chị giữ làm vật siết nợ về, còn bộ bàn ghế tôi dự định lấy sau và cho đến nay tôi vẫn chưa lấy về và chị H. vẫn còn giữ bộ bàn ghế đó của tôi. Đến hiện nay, chị H. lấy tờ giấy nợ cũ ra để thưa kiện tôi, chị đã lợi dụng lòng tin của tôi, không làm đúng lời hứa, nói sai sự thật, hơn thế nữa còn cho vay lấy lãi cao, điều này làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của tôi cũng như những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà tôi phải chịu.
Tôi xin cam đoan và xin chịu trách nhiệm trước Pháp luật là những gì tôi khai trong Bản tự khai này là hoàn toàn đúng và khách quan. Kính mong Toà xem xét và giải quyết. Tôi xin chân thành cám ơn" Trên đây là nội dung bản tự khai nộp lên toà án ạ. Hiện tại toà đang gọi hoà giải, với thoả thuận là trả chị H. 200 triệu đồng trong 2 tháng, nhưng anh trai em hoàn toàn không có khả năng trả (anh trai em muốn gia hạn thời gian dài để vừa làm dư bao nhiêu trả nợ bấy nhiêu, còn nếu trả trong 2 tháng thì không có khả năng). Vậy thì toà án có quyền hạn ra quyết định anh trai em trả nợ trong 2 tháng không? Muốn thoả thuận trả nợ trong dài hạn thì phải làm thế nào?! Ngoài ra, bà H. đã kiện và khai không đúng sự thật, thì phải làm thế nào để bảo vệ sự thật? Có nên kiện bà H. không và có nên nhờ Công an điều tra giúp đỡ? (Giấy tờ nợ cũ đều nằm trong tay bà H. và phía anh trai em không có bất kì bằng chứng nào để chứng minh bà H. nói sai sự thật và chứng minh bà H. cho vay nặng lãi, chỉ có người làm chứng thôi ạ).
Rất mong nhận được phản hồi của công ty, em xin cám ơn!

Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162
Trả lời:
Việc không có bất kì bằng chứng nào để chứng minh bà Huệ nói sai sự thật và chứng minh bà Huệ cho vay nặng lãi là bất lợi cho anh bạn. Tuy nhiên có việc có lời khai của người làm chứng cũng có thể là nguồn chứng cứ.
Theo quy định tại điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định cụ thể như sau:
Điều 94. Nguồn chứng cứ
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.
2. Vật chứng.
3. Lời khai của đương sự.
4. Lời khai của người làm chứng.
5. Kết luận giám định.
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.
7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.
8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.
9. Văn bản công chứng, chứng thực.
10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
Điều 95. Xác định chứng cứ
1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Như vậy, muốn bảo vệ sự thật thì cần có chứng cứ có tính thuyết phục trước tòa. Bạn cần thu thập tất cả mọi thông tin, chứng cứ có thể liên quan đến việc anh bạn đã trả tiền để làm căn cứ bảo vệ quyền là lợi ích của bản thân cũng như thương lượng trước Tòa. Nếu đã có phán quyết của tòa thì phải thực hiện, nếu không thỏa đáng thì có thể kháng cáo. Tốt nhất nên mời luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
4. Cho vay với lãi xuất bao nhiêu thì bị coi là cho vay nặng lãi ?
Nếu các giao dịch được thực hiện qua việc chuyển khoản tại ngân hàng, không hề có giấy tờ vay nợ cũng như việc thỏa thuận chi trả lãi suất bao nhiêu, nếu căn cứ vào các giao dịch đã thực hiện thì số tiền lãi của người đó chi trả trong năm qua đã vượt nợ gốc, với trường hợp này nếu người vay nợ chối bỏ trách nhiệm và cho rằng đã thanh toán đầy đủ số tiền đã vay thì tôi nên xử lý thế nào?
Xin cảm ơn!
Người gửi: T.S
>> Luật sư tư vấn luật dân sự về lãi suất:1900.6162
Trả lời:
Căn cứ vào quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau:
Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ
Như vậy bạn cho vay với lãi suất là 8%/tháng thì có phải cho vay lãi nặng hay không?
Cụ thể, theo Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 cụ thể như sau:
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Có đòi nợ không trong trường hợp đã làm giấy xác nhận công nợ ?
Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồngThời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê