1. Cho vay lãi 2 nghìn/ triệu /ngày có phải vay nặng lãi ?

Thưa Luật sư, tôi muốn hỏi là cho vay với lãi 2nghìn /1 triệu /1 ngày có phải là cho vay nặng lãi không? Mong anh chị giải đáp giúp em.

Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

- N.C.A

Cho vay lãi 2 nghìn/ triệu /ngày có phải vay nặng lãi ?

Luật tư tư vấn lĩnh vực dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời :

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Bộ luật dân sự 2015 quy định về lãi suất như sau :

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Hiện nay lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố là 9%/ năm, còn theo luật dân sự thì không quá 1,667%/tháng.

Bạn cung cấp số liệu cho vay 2 nghìn đồng /triệu / ngày tức là 60 nghìn/triệu/tháng. Tức là lãi suất 6%/ tháng. Như vậy đã vượt quá lãi suất tối đa mà nhà nước cho phép là 5,3 lần.

Với hành vi này chưa được coi là cho vay nặng lãi mà chỉ bị xử phạt hành chính theo điểm d, khoản 3, điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

"d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.".

Để được xem là hành vi cho vay nặng lãi thì cần đáp ứng điều kiện quy định tại điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

2. Lãi suất 6000đ/1 triệu/ ngày có phải là cho vay nặng lãi không?

Thưa luật sư, Bạn Em có vay tiền một người, với lãi suất là 6000đ /1triệu /ngày, em muốn hỏi là như thế thì theo pháp luật sẽ xử như thế nào ạ. Số tiền vay là 10 triệu trở lên ạ ?

Em cảm ơn luật sư!

Người gửi: Nguyễn Phan

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Hành vi cho vay nặng lãi:

Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.".

+ Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 20%/năm đã vi phạm trong vấn đề cho vay

+ Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt 20%/năm

Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

2. Tội cho vay nặng lãi:

Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 05 lần trở lên. Tức là: lãi suất cho vay quy định không quá 1,667%/tháng, vậy nếu cho vay quá 5 lần 1,667 %/tháng = 8,335%/tháng và thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên thì đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự rồi.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Trên đây là quy định của pháp luật về cho vay nặng lãi và tội cho vay nặng lãi.

Hiện nay, lãi suất cơ bản là 8%/năm, như vậy với lãi suất là 6000đ /1triệu /ngày thì thuộc hành vi cho vay nặng lãi.

Trân trọng./.

3. Luật sư tư vấn về hoạt động cho vay nặng lãi ?

Thưa luật sư, Em có vay nặng lãi số tiền là 10 triệu, mức lãi đóng tiền cứ 1 triệu là 100 nghìn, mỗi tháng em phải đóng là 1 triệu cho số tiền vay 10 triệu, cho em hỏi nếu tính ra theo % về quy định của NH nhà nước thì mức lãi trên có vượt mức quy định không ?
Em xin cảm ơn!
Người hỏi: Diệu Ngọc

Luật sư tư vấn về hoạt động cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về hoạt động cho vay nặng lãi, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 về lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự là không được vượt quá 20%/năm tức 1,667%/tháng.

Trong trường hợp của bạn mức lãi suất bên cho vay áp dụng đối với số tiền 10 triệu là 1 triệu/tháng tức là 10%/tháng hay 120%/năm. Hiện nay, lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định là 9%/năm, mức lãi suất cao nhất mà bên cho vay có thể áp dụng cho bạn là 13,5%/năm. Như vậy, mức lãi suất mà bên cho vay đang áp dụng đối với bạn đã vượt qúa mức quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

4. Tranh chấp tài sản: Bảo lãnh cho người khác vay nặng lãi ?

Thân gửi văn phòng luật sư: Tôi có vụ việc như sau : Giữa năm 2015, khi đi làm ở Hà Nội tôi có quen biết với anh HÀ HÙNG.(là người cùng xã). Vì tôi không quen biết bên cho vay nên tôi có nhờ anh Hùng đứng ra bảo lãnh và mượn cho tôi 10.000.000 vnd.

Tôi đã nhận số tiền đó.sau khi nhận đủ số tiền là 8.500.000 vnd (do vay tín dụng nên cắt lãi 1.500.000vnd/1tháng) tôi có thông báo cho bên cho vay là tôi đã nhận đủ (bên cho vay cũng là người cùng quê, cùng xã).

Sau đó 2 ngày thì anh HÀ HÙNG tiếp tục vay thêm 10.000.000 vnd của bên đã cho vay nhưng với danh nghĩa là vay cho tôi và hứa sẽ tự lo khoản vay thêm đó. Tôi cũng có đồng ý và nói anh Hùng khi nào đến hạn thì trả. Sau đó khi đến hạn tôi đã hoàn trả đủ số tiền 10.000.000 tôi có vay và nhận trước đó qua anh Hùng. Đến nay đã quá hạn nhiều tháng,anh Hùng vẫn chưa hoàn trả số tiền mà tôi đã hoàn trả qua anh và số tiền anh vay thêm (tổng cộng là 20.000.000 vnd)cho bên cho vay. Bây giờ bên cho vay họ thúc ép yêu cầu anh Hùng phải thanh toán số nợ đó,anh Hùng trốn tránh không gặp mặt bên cho vay vì ngoài số tiền anh đứng ra vay cho tôi thì anh còn nợ bên cho vay một khoản lớn nữa.

Do vậy cho nên bên cho vay bây giờ ép tôi phải hoàn trả số tiền 20.000.000 vnd mà a Hùng đã đứng ra bảo lãnh vay cho tôi.(trên thực tế anh Hùng có nhận trách nhiệm về việc tôi đã hoàn trả đủ tiền với bên cho vay và hẹn ngày trả với họ. Nhưng quá hẹn nhiều lần mà a Hùng vẫn trốn tránh không chịu trả cho nên bên cho vay lại quay sang tìm tôi để đòi .)Do vậy bây giờ tôi muốn nhờ luật sư tham khảo tư vấn để có thể khởi kiện. Và nếu kiện thì tôi có thể kiện như thế nào. Tôi muốn văn phòng luật sư MINH KHUÊ đứng ra bào chữa cho tôi.

- Nếu kiện thì anh Hùng có nói với tôi là luôn nhận trách nhiệm đã cầm tiền của tôi nhưng chưa hoàn trả lại bên cho vay trước pháp luật.

- Trong trường hợp anh không nhận thì tôi có người làm chứng anh đã nhận tiền của tôi và có băng ghi âm chứng minh anh đã nhận tiền ?

- Nếu có thể thì tôi có kiện bên cho vay không có quyền đòi tiền như tôi được không, vì tiền tôi nhận như anh Hùng và nếu không có anh Hùng đứng ra vay thì tôi không thể vay được số tiền đó,và lý do nữa là bên cho vay đang cố tình ủy thác trách nhiệm lôi anh Hùng về sang cho tôi.

Tôi trình bày nội dung sự việc như vậy rất mong văn phòng luật sư tham khảo và cử người giúp tôi khởi kiện. Nếu có thể xin liên lạc với tôi!

Tranh chấp tài sản: Bảo lãnh cho người khác vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 41 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm:

"Điều 41. Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định, bao gồm các trường hợp sau đây:

1. Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh;

2. Bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ đó, nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;

3. Bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ;

4. Các căn cứ khác, nếu pháp luật có quy định"

Như vậy, các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh này. Tuy nhiên, bạn không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh, mà bạn lại đưa số tiền đó cho bên bảo lãnh vì vậy phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên bảo lãnh là người bạn của bạn và mối quan hệ tồn tại giữa bạn và người bạn của bạn là mối quan hệ dân sự thông thường. Đối với quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh và bạn của bạn sẽ xử lý theo điều 339 BLDS năm 2015:

"Điều 339. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

2. Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn.

3. Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh."

Được hướng dẫn tại Khoản 3, Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ -CP sửa đổi Điều 47 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm

Khoản 3, Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP
“Điều 47. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh
Việc xử lý tài sản của bên bảo lãnh theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Dân sự được thực hiện như sau:
1. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo quy định tại Chương IV của Nghị định này.
2. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lý theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu bên bảo lãnh không giao tài sản thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.
3. Tại thời điểm xử lý tài sản của bên bảo lãnh nếu bên bảo lãnh không có tài sản để xử lý hoặc khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo lãnh thì trong phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải giao tài sản có được sau thời điểm xử lý cho mình để tiếp tục xử lý.”

Do đó, bên người của bạn và tổ chức tín dụng có thể thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì bên tổ chức tín dụng có quyền khởi kiện tại Tòa án

Còn đối với quan hệ giữa bạn và người bạn của bạn thì đây là một giao dịch dân sự. Việc người của bạn chiếm hữu số tiền của bạn là bất hợp pháp, là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự cụ thể tại Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 với quy định:

"Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các căn cứ sau đây:

Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

1. Hợp đồng.

2. Hành vi pháp lý đơn phương.

3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.

4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.

Tuy nhiên, người bạn của bạn lại không thực hiện nghĩa vụ này vì thế đã phát sinh trách nhiệm dân sự đối với người này, cụ thể tại Điều 351 BLDS năm 2015:

"Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền."

Nếu người bạn này không thực hiện trách nhiệm thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Chủ nợ có quyền khởi kiện con nợ về khoản tiền cho vay nặng lãi ?

Thưa luật sư, Chào luật sự gia đình tôi có mượn một khoản tiền là 250trieu mỗi tháng gia đình tôi đóng lãi 25trieu / tháng đến nay gần một năm và hiện nay không còn khả năng chi trả số vốn ban đầu nữa .
Bên cho vay có đòi kiện pháp luật, tôi xin hỏi trong trường hợp này gia đình tôi có bị chịu trách nhiệm hình sự không ? Xin cám ơn!
Người hỏi: Hieu

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo như bạn trình bày thì gia đình bạn có mượn một khoản tiền là 250 triệu và gia đình bạn đóng lãi mỗi tháng là 25 triệu.

Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Hiện nay lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước là 9% như vậy lãi suất mà bạn phải trả cho bên cho vay không quá 13,5%. Theo như bạn trình bày thì ngươi đó tính lãi với bạn là 12%/tháng. Như vậy, người đó không cho bạn vay với lãi nặng.

Điều 463 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy, hợp đồng vay tài sản trong dân sự có thể được lập thành văn bản hoặc lời nói. Trong trường hợp này, nếu bên cho vay báo trước cho bạn một thời gian để trả lại số tiền đã vay cùng với tiền lãi mà đến thời gian đó bạn không trả thì bên cho vay có quyền kiện bạn ra tòa. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 nếu bạn có hành vi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản của bên cho vay thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
...
35. Sửa đổi, bổ sung Điều 175 như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Nếu trong trường hợp bạn không bỏ trốn nhưng không đủ khả năng trả lại cho bên kia thì bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất cứ tội danh nào cả. Tòa sẽ đưa ra các biện pháp áp dụng cho bạn như: phong tỏa tài sản, trả nợ dần cho đến khi hết nợ...

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

6. Hỏi về cho vay nặng lãi ?

Thưa luật sư, Mẹ em do không hiểu biết đã cho vay toàn bộ số tiền tiết kiệm và hứa được nhận lãi suất cao tuy nhiên giờ họ nói không trả được vì bị phá sản. Vậy em phải kiện như thế nào ạ ?

Chân thành cám ơn luật sư!

Người gửi: Yen

>> Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Đầu tiên bạn cần chú ý đền thời hiệu khởi kiện:

Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định:

Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Do đó, trong khoảng thời gian 03 năm kể từ ngày mà quyền lợi của bạn bị xâm phạm thì bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mẹ bạn.

Hồ sơ khởi kiện tại tòa án bao gồm:

- Đơn khởi kiện;

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;

- Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng).

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (bạn phải ghi rõ số lượng bản chính, bản sao) - các tài liệu này bạn phải đảm bảo có tính căn cứ và hợp pháp.

Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 bạn có thể nộp hồ sơ khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi bị đơn (người vay tiền của mẹ bạn) cư trú, hoặc nộp đơn tại tòa án nhân dân nơi mẹ bạn đang cư trú ( nếu hai bên có sự thỏa thuận bằng văn bản)

Ngoài ra, mẹ bạn sẽ phải nộp án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

"Điều 26. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm

1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

7. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch.

8. Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 3 Điều 320 của Bộ luật tố tụng dân sự thì các đương sự phải chịu 50% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.

9. Trong vụ án có người không phải chịu án phí hoặc được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này.

10. Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết thì nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết theo quy định tại Điều này.

11. Nguyên đơn trong vụ án dân sự do cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của người khác không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê