1. Chủ nợ có được phép lấy tài sản của con nợ không ?

Chào luật sư, xin hỏi: Có thể giải đáp thắc mắc cho em về vấn đề sau đc ko ạ: A nợ B một khoản tiền, do đã dùng nhiều cách để lấy lại số tiền A đã mượn nhưng ko được, B đã sang nhà A lấy chiếc xe máy và chiếc tivi của A về để coi như gán nợ. vậy B có phải chịu trách nhiệm hình sự ko và về tội gì ạ
Cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về cưỡng đoạt tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ở trong tình huống này, A là con nợ, B là chủ nợ, có thể chia thành hai trường hợp như sau:

- Trường hợp 1: Chủ nợ công khai lấy tài sản của con nợ (B đối với A), sử dụng vũ lực hoặc đe dọa con nợ để lấy tài sản, ở đây là chiếc xe máy. Trường hợp này có dấu hiệu phạm tội cướp tài sản.

Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội cướp tài sản:

"1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm."

- Trường hợp 2: Chủ nợ lén lút lấy tài sản của con nợ mà con nợ không biết. Trường hợp này có dấu hiệu phạm tội trộm cắp tài sản.

Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại."

Để xác định hành vi của chủ nợ (B) có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phụ thuộc vào việc đánh giá hành vi vi phạm của người thực hiện. Nếu người lấy tài sản hiểu biết thấp, hành vi tuy có dấu hiệu phạm tội nhưng chưa đến mức gây nguy hiểm cho xã hội thì có thể được xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại goi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

2. Ép người khác viết giấy nhận nợ phạm tội gì ?

Xin chào văn phòng luật sư, Tôi có trường hợp thế này: Tôi có người anh rể tham gia đánh bạc sau khi chơi bạc xong biết mình bị chơi cờ bạc bịp nên anh rể tôi đã gọi mấy người cùng chơi xuống nhà người tổ chức đánh bạc đánh người này sau đó có lấy 1 số đồ dùng của người này và còn bắt người ta viết giấy vay nợ với số tiền là 200 triệu đồng.

Tổng giá trị cả giấy vay nợ và tài sản khoảng gần 300 triệu đồng. Sau đó người bị đánh đã làm đơn trình báo ra công an và anh tôi cùng mấy người bạn đã bị bắt. Trong quá trình điều tra tôi có nghe nói là bên công an lập hồ sơ tội cướp tài sản có tổ chức vào khoản 3 nhưng ko biết vào điều 133 hay 136 trong bộ luật hình sự. Vậy rất mong văn phòng luật sư xem giúp tội như trên tôi trình bày thì anh tôi bị vào điều 133 hay 136 trong bộ luật hình sự. Rất mong văn phòng luật sư chỉ giúp.thay mặt gia đình xin cảm ơn văn phòng luật sư.

P/s:quên mất là người bị đánh ko bị tỉ lệ % thương tích nào ? Rất mong phản hồi của văn phòng luật sư!

Ép người khác viết giấy nhận nợ phạm tội gì ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì anh bạn bắt người ta viết giấy vay nợ với số tiền là 200 triệu đồng như vậy có nghĩa là người viết giấy vay nợ không tự nguyện mà bị cưỡng ép. Theo các quy định của Bộ luật Dân sự thì giấy vay nợ này vô hiệu.

* Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017

Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Phân tích:

- Dấu hiệu khách quan:

+ Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi dùng sức mạnh, dùng công cụ, phương tiện tác động vào người khác nhằm đè bẹp và làm tê liệt sự chống cự của người đó nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi dùng vũ lực tác động vào người chủ tài sản hoặc người đang quản lý tài sản.

+ Hành vi dùng vũ lực đe dọa ngay tức khắc: Người phạm tội có những hành động, cử chỉ đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt tài sản, việc đe dọa có thể với chính chủ tài sản hoặc người thân, người lệ thuộc của chủ tài sản. Cần xem xét kỹ yếu tố ngay tức khắc về hoàn cảnh, về thời gian, về tương quan lực lượng…

+ Hành vi làm cho người tấn công không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản như là đầu độc, gây mê…

- Dấu hiệu chủ quan: Lỗi cố ý

Phân tích:

​Điều 171. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

- Dấu hiệu khách quan: thực hiện hành vị một cách công khai, nhanh chóng, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản đang rồi nhanh chóng tẩu thoát.

- Dấu hiệu chủ quan: lỗi cố ý.

Theo như bạn trình bày thì anh rể bạn "đã gọi mấy người cùng chơi xuống nhà người tổ chức đánh bạc đánh người này sau đó có lấy 1 số đồ dùng của người này" như vậy anh bạn đã sử dụng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị tấn công không chống cự lại được nhằm chiếm đoạt tài sản của người đó. Do đó, hành vi của anh bạn đã cấu thành nên tội quy định tại điều 133 Bộ luật Hình sự tội cướp tài sản.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Làm sao để đòi nợ hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện nay ?

3. Khởi kiện trường hợp trốn nợ và bỏ trốn như thế nào ?

Kính chào luật MInh Khuê. Tôi có câu hỏi mong được giải đáp như sau: Gần đây đồng nghiệp của vợ tôi cũng là hiệu phó của trường có vay vợ tôi 60.000.000 đồng có viết giấy vay nợ và hứa trong vòng 3 ngày sẽ trả tiền nếu không sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật.
Nhưng đến nay đã gần một tháng cô ta không trả tiền và trốn khỏi địa phương với lý do vỡ nợ.cũng trong khoảng thời gian đó cô ta có vay của nhiều người và cũng không trả. Xin luật sư cho tôi hỏi bây giờ vợ tôi phải kiện cô ta ở đâu : công an huyện hay viện kiểm sát nhân dân huyện. Và nếu bị kiện cô ta có bị phát lệnh truy nã không vì cô ta đã trốn khỏi địa phương ?
Mong Luật sư giải đáp giúp. Xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 100
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trong trường hợp của bạn, đồng nghiệp của vợ bạn cũng là hiệu phó của trường có vay vợ bạn 60.000.000 đồng có viết giấy vay nợ và hứa trong vòng 3 ngày sẽ trả tiền nếu không sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật. Nhưng đến nay đã gần một tháng cô ấy không trả tiền và trốn khỏi địa phương với lý do vỡ nợ, cũng trong khoảng thời gian đó cô ta có vay của nhiều người và cũng không trả. Hành vi của cô ấy là hành vi lợi dụng tín nhiệm để vay mượn tài sản rồi dùng thủ đoạn bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Hành vi này đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

" Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Như vậy, bạn có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát, Tòa án hoặc các cơ quan tổ chức khác.

Căn cứ vào Điều 4 Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quyết định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự:

"Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đủ căn cứ xác định đối tượng quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;

b) Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.

2. Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài 1900.6162 để được tư vấn

>> Xem thêm:  Vay nợ không có thế chấp thì có bị tịch thu tài sản để trả nợ không ?

4. Con nợ thua bạc mất khả năng trả nợ làm sao để đòi ?

Xin chào luật sư, Tôi có thắc mắc về việc là khoảng thời gian gần đây do có tiền nhàn rỗi nên có nhờ 1 người bạn cho vay dưới dạng cho góp. Theo như mọi người vẫn cho vay thì tính lãi như sau: cứ 1 triệu thì mỗi ngày góp 40 ngàn, sau 1 tháng trả thành 1,2 triệu cả gốc lẫn lãi. Và người vay đã vay nhiều khoản vay như vậy nên họ vay tiền và chấp nhận đúng lãi suất như vậy, và sau mỗi tháng góp xong tôi cho lại họ 1 ngày góp. Người vay này vẫn góp đầy đủ thời gian đầu và hiện nay thì mượn của tôi khoảng 100 triệu, đã góp được 39 triệu thì nói không có khả năng trả. Vấn đề là khi người đó mượn thì dùng tên người khác nói là mượn giùm người khác hay là kẹt chuyện nhà, hay có khăn nên tôi cho mượn nhưng khi mọi chuyện vỡ lở thì tôi mới biết người này cũng mượn nhiều người khác và dùng tiền này đắp tiền kia và dùng tiền đánh bài.
Và họ nói với tôi là họ cờ bạc thua hết không còn khả năng trả. Ban đầu họ hứa mỗi tháng trả 3 triệu và đề nghị tiếp tục tính lãi tôi đồng ý để họ trả 3 triệu nhưng tôi không tính lãi tiếp. Tới tháng sau thì họ chỉ trả 1 triệu và hứa đưa vào ngày khác nhưng hiện tại họ nói họ chỉ trả 1 triệu/ tháng nhưng không chịu thế chấp tài sản nên tôi không đồng ý. Chồng và con người vay đều là Đảng viên, còn người vay không đi làm, cả gia đình họ giờ đều biết khoản vay họ đều nói trả 1 triệu nhưng không chịu thế chấp tài sản hay kí giấy nợ hay giấy đảm bảo.
Vậy cho tôi hỏi luật sư. Tôi có thể gửi đơn khiếu nại ở cơ quan chồng và con người vay hay không và nếu kiện ra tòa thì tôi có bị gọi là cho vay lãi cao hay không và tòa sẽ giải quyết thế nào?
Xin cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

" Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất".

Căn cứ quy định tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN như sau: "Quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm."

Trường hợp của bạn, bạn cho vay tiền với các tính lãi là cứ 1 triệu thì mỗi tháng trả cả gốc lẫn lãi thành 1 triệu 160 nghìn đồng, tức là lãi 16%/1 tháng, tương đương với 192%/1 năm. Trong khi lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước chỉ có 9%/1 năm, mức lãi của bạn cao gấp hơn 21 lần lãi suất của ngân hàng nhà nước.

Điều 201, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, hành vi của bạn hoàn toàn có thể cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Bạn có thể cân nhắc việc khởi kiện đòi nợ, khi khởi kiện đòi nợ bạn chưa chắc có thể đòi lại số tiền gốc nhưng sẽ phải đối mặt với việc bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vay tín chấp - Những vấn đề pháp lý cần biết về quyền và nghĩa vụ các bên ?