Trả lời:

Chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế rất đa dạng, có thể chia thành các chủ thể sau:

 

1. Quốc gia

Trên thế giới hiện nay có khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 193 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc (UN). Các thành viên của UN hiện đều là các quốc gia có chủ quyền. Theo Công ước Montevideo năm 1933 về quyền và nhiệm vụ của các quốc gia thì một quốc gia có chủ quyền, là chủ thể trong pháp luật quốc tế phải đảm bảo 4 tiêu chí: có dân số ổn định; có lãnh thổ xác định; có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế.

Việc phân loại các quốc gia ttên thể giới có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Đặc biệt mỗi tổ chức quốc tế có thể đưa ra bộ tiêu chí riêng cho mình.

- Tiêu chí mà Ngân hàng thế giới (WB) dùng để phân loại các nước trên thế giới là căn cứ vào thu nhập quốc gia (GNI - Tổng thu nhập quốc gia (GNI) là chỉ số về tình trạng thu nhập của một quốc gia. GNI bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trừ đi thu nhập phải trả cho các đối tượng không thường trú, cộng với thu nhập nhận được từ các đối tượng không thường trú) bình quân trên đầu người, theo đó các nước được chia thành: nước có thu nhập cao, thu nhập trung bình cao, thu nhập trung bình thấp, thu nhập thấp. Vào ngày 01 tháng 7 hằng năm, WB sẽ cập nhật số liệu các ngưỡng GNI bình quân đầu người để phân loại các quốc gia. Theo đó, số liệu ngưỡng GNI bình quân đầu người để phân loại quốc gia dùng cho năm 2019 - 2020 như sau:

+ Nhóm các quốc gia có thu nhập thấp: dưới 1,026$. Những nước thuộc nhóm này năm 2019 gồm 31 nước, chủ yếu là các nước ở châu Phi như: Congo, Mozambique, Somalia, Tanzania,... và một số nước ở Nam Á như: Nepal, Afghanistan,...;

+ Nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (LMC): 1,026 - 3,995$. Theo danh mục phân loại các quốc gia, năm 2019, Việt Nam là một frong số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Có 47 quốc gia thuộc nhóm này, trong đó có nhiều nước thuộc châu Á, như: Cambodia, Lào, Indonesia, Philippines, Myanmar, Bangladesh,...;

+ Nhóm các quốc gia có thu nhập hên trung bình cao (UMC): 3,996 - 12,375$. Những nước thuộc nhóm này năm 2019 gồm 60 nước, bao gồm các nước Đông Âu như: Bulgaria, Kazakhstan, Romania, Serbia, Belarus..., các nước châu Á như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan,...;

+ Nhóm các quốc gia có thu nhập cao (HIC): từ trên 12.376$. Những nước thuộc nhóm này năm 2019 gồm 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) (31 nước) và nước không thuộc khối OECD.

- Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế, có thể phân chia thành: Nước phát triển, nước đang phát triển và nước kém phát triển.

UN không có định nghĩa chính thức về “nước phát triển” hay “nước đang phát triển”. UN chỉ đưa ra các tiêu chí để xác định các nước kém phát triển nhất (Least developed countries- LDCs), và đưa ra những đặc điểm thường có của các nước phát triển và đang phát triển. Theo đó:

+ Quốc gia phát triển thường có những đặc điểm: Là nước có mức độ công nghiệp hóa cao; Mức sống cao: GNI/đầu người trung bình 3 năm bằng mức GNI/đầu người của một quốc gia có thu nhập cao theo ngưỡng của WB; Chỉ số phát triển con người (HDI - HDI (Human Development Index): Chỉ sế phát triển con người, được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbub ul Haq và nhà kinh tế học người An Độ Amartya Sen vào năm 1990 và được UN sử dụng đê đánh giá một cách tông hợp và xếp loại trình độ phát triến kinh tế - xã hội chung giữa các quốc gia. HDI bao gồm 3 yếu tổ cơ bàn: tuổi thọ bình quân được phản ánh bằng số năm sống; trình độ giáo dục được đo bằng sự kết hợp ti lệ người lớn biết chữ và tỉ lệ đi học đúng độ tuổi; mức thu nhập bình quân trên đầu người tính theo sức mua tương đương. HDI cao nhất bằng 1 và nhỏ nhất là 0. Quốc gia nào có chỉ số HDI càng gân 1 được đánh giá là càng phát triển) cao: từ 0,8 trở lên.

+ Quốc gia đang phát triển thường có những đặc điểm: Có nền tảng công nghiệp kém phát triển, chưa đạt mức độ công nghiệp hóa tương xứng với quy mô dân số; Mức sống thấp: GNI/đầu người trung bình 3 năm bằng mức GNI/đầu người của một quốc gia có thu nhập trung bình (trung bình thấp và trung bình cao) theo ngưỡng của WB; HDI trung bình: từ 0,5 đến 0,8.

+ Quốc gia kém phát triển: ủy ban Chính sách phát triển của Liên hợp quốc (CPD) đã đưa ra các tiêu chí để xác định quốc gia kém phát triển nhất (LDCs) vào năm 1971. Hiện tại, có 3 tiêu chí được sử dụng để xác định một LDCs bao gồm: GNI/đầu người thấp; Chỉ số nguồn nhân lực (Human Assets Index - HAI): tính toán dựa trên tỉ lệ trẻ suy sinh dưỡng, tỉ lệ tử vong của trẻ em từ 5 tuổi trở xuống, tỉ lệ nhập trường tiểu học và trung học và tỉ lệ người lớn biết chữ; Chỉ số tổn thương về kinh tế (Economic Vulnerability Index - EVI): tính toán frên quy mô dân số, khoảng cách về trình độ kinh tế giữa các vùng, tỉ lệ xuất khẩu hàng hóa, tỉ lệ ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP, tỉ lệ dân cư sống ở vùng duyên hải chậm phát triển, tính không ổn định của xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, số lượng nạn nhân của thiên tai, và tính không ổn định của sản xuất nông nghiệp.

Theo CPD, năm 2018, tiêu chí xác định một LDCs có ngưỡng các chỉ số tương ứng là: GNI/đầu < 1.025$, HAI < 60, EVI > 36.

Inclusion Thresholds: 2018 Triennial Review

©

 

1

©

Gross National Income

Human Assets Index

I Economic Vulnerability

(GNI) per capita

(HAD

Index

 

 

(EVI)

$1,025 or below

60 or below

36 or above

Ba năm một lần, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations Developement Programme - UNDP) sẽ thống kê và xem xét lại danh sách các quốc gia kém phát triển nhất. Theo đó, để thoát khỏi nhóm những nước kém phát triển nhất, một quốc gia phải có ít nhất hai trong ba tiêu chí không rơi vào ngưỡng của nhóm LDCs (trừ trường hợp GNI/đầu người ít nhất cao gấp đôi ngưỡng xếp loại LDCs). Thông thường, tiêu chí GNI/đầu người phải cao hơn tối thiểu 20% so với mức của một quốc gia thu nhập thấp (theo ngưỡng của WB).

Danh sách các nước LDCs cập nhật đến tháng 12/2018 gồm 47 nước, trong đó có 33 nước ở châu Phi, 13 nước ở châu Á - Thái Bình Dương (không có Việt Nam) và 01 nước ở Mỹ Latinh. Các nước LDCs chiếm khoảng 12% dân số thế giới (880 triệu người), nhưng chiếm chưa đến 2% GDP thế giới và khoảng 1% thương mại toàn cầu.

Theo WB, năm 2018 Việt Nam có GNI/đầu người là 2.360$ và chỉ số HDI là 0.693, thuộc nhóm nước có HDI trung bình, xếp hạng 118/189 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Danh sách các nước LDCs (cập nhật 12/2018)

List of Least Developed Countries (as of December 2018) *

Country

Year of inclusion

Country

Year of inclusion

Afghanistan                                         

1971

Malawi

1971

Angola1

1994

Mali

1971

Bangladesh

1975 í

Mauritania

1986

Benin

1971

Mozambique

1988

'Bhutan3

1971

Myanmar

1987

Burkina Faso

1971

Nepal

1971

Burundi

1971

Niger

1971 ,

Cambodia

1991

Rwanda

1971

 

1975

São Tomé and Principe’

 

Chad

1971

Senegal

2000

MBWWWKwi

1977

Siena Leone ■

1982.

Democratic Republic of the Congo

1991

Solomon islands4

1991

Djibouti

1982

Somalia

1971

Eritrea

1994

South Sudan

2012

 

1971

Sudan

1971 ..

Gambia

1975

Timor-Leste

2003

 

1971

Togo 5. ,

1982.

Guinea-Bissau

1981

Tuvalu

1986

‘-Ệ’ị'

ĩ 1971

Uganda

1971

Kiribati

1986

United Republic of Tanzania

1971

LwPeopte's DerrtocraticReí^ic .

 

Vanuatu5

'1985./.

Lesotho

1971

Yemen

1971

-t-

i£“199K-i

 

Ị 99Ị /

Madagascar

1991

 

 

 

* The list will be updated when new decisions become available.

Nguồn: https://www.un.org/development/desa/dpad/wp-content/ uploads/sites/45/publỉcation/ldc_Ịỉst.pdf

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) không đưa ra tiêu chuẩn về thành viên “phát triển” và “đang phát triển”. Các thành viên được coi là đang phát triển trên cơ sở tự nhận mình là “đang phát triển”. WTO thừa nhận một nước là kém phát triển trên cơ sở xếp hạng của UN. Tuy nhiên, WTO không mặc nhiên thừa nhận điều này mà còn phụ thuộc vào ý kiến của các thành viên còn lại về việc chấp thuận hay không chấp thuận coi một nước thành viên là đang phát triển bởi tư cách này sẽ ảnh hưởng nhiều đến các ưu đãi cũng như nhượng bộ trong khuôn khổ các hiệp định của WTO.

Trong thời gian đàm phán gia nhập WTO, GDP tính theo đầu người của Việt Nam năm 2006 là 640 USD. Đây là mức GDP rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng do Việt Nam không được coi là LDCs theo tiêu chí của UN, nên WT0 cũng không thừa nhận Việt Nam là LDCs để cho hưởng những ưu đãi đặc biệt của hệ thống thương mại đa phương. Tuy nhiên, trong đàm phán gia nhập WT0, Việt Nam khẳng định rằng mình là “nước đang phát triển ở trình độ thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi” nên đề xuất mức độ mở cửa thị trường và lộ trình phù hợp.

- Căn cứ vào sự tham gia của các nước vào các tổ chức quốc tế, có thể chĩa thành: các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế), các nước OPEC (Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu lửa), hay các nước công nghiệp mới (NICs).

Các cách phân loại nói trên chỉ mang tính quy ước, được sử dụng không nhất quán trong các tổ chức quốc tế và các tài liệu nghiên cứu.

 

2. Các tổ chức và liên kết kinh tế quốc tế

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia trên thế giới đứng trước hàng loạt các vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Bên cạnh nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia nhằm hàn gắn vết thương chiến franh, thì khôi phục lại nền kinh tế quốc gia nói riêng và kinh tế thế giới nói chung trở nên rất cần thiết. Lúc này, bên cạnh quốc gia, những mô hình hợp tác đã dần được hình thành thể hiện sự gắn kết và quyết tâm cao của cộng đồng quốc tế trong việc họp tác cùng phát triển, đó chính là các tổ chức và liên kết quốc tế.

Chủ thể này được hình thành và phát triển do quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, đặc biệt trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Các chủ thể này có thể là tổ chức mang tính khu vực như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), NAFTA, EU...; liên kết kinh tế liên khu vực như: Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ASEM... hoặc tổ chức, liên kết kinh tế toàn cầu như WB, IMF, WTO, FAO...

Các chủ thể này ngày càng có vai ưò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế, như: Tổ chức và phối hợp hoạt động của các quốc gia trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế; Tạo cơ sở cho các cuộc đối thoại về kinh tế giữa những nước giàu và nước nghèo; Quan tâm giải quyết các vấn đề kinh tế toàn cầu như năng lượng, lương thực, môi trường sinh thái; Góp phần tạo thuận lợi cho sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, góp phần xây dựng thế giới hòa bình và an ninh; Các tổ chức kinh tế quốc tế có vai trò lớn trong việc xây dựng một hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế.

 

3. Công ty xuyên quốc gia (TNCs)

Trong kinh tế, có thể bắt gặp các thuật ngữ nói về các công ti không chỉ kinh doanh trên thị trường nội địa mà còn hoạt động ở cả thị trường quốc tế, như: Công ti quốc tể (International Corporation), Công ti đa quốc gia (Multinational Corporation) và Công ti xuyên quốc gia (Transnational Corporation). Trong đó, Công ti quốc tế là công ti có sự quốc tế hóa thị trường, tức là hoạt động ở cả thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài; Công ti đa quốc gia là công ti cỏ sự quốc tế hóa nguồn vốn, tức là có chủ đầu tư thuộc các quốc tịch khác nhau; Công ti xuyên quốc gia là công ti có sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh nhưng chủ đầu tư thường thuộc một quốc tịch. Tuy nhiên, trong Giáo trình này, xuất phát từ góc độ sự ảnh hưởng xuyên quốc gia trong quan hệ quốc tế, thuật ngữ Công ti xuyên quốc gia được sử dụng chung để chỉ tất cả các công ti hoạt động trên quy mô quốc tế, tức là có thể bao gồm cả 3 loại công ti kể hên.

Công ti xuyên quốc gia là khái niệm dùng để chỉ các công ti sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia, hoạt động theo một hệ thống, có định hướng chiến lược phát triển chung. Có thể hiểu, TNCs là một tập đoàn tư bản bao gồm hai bộ phận chính:

+ Công ti mẹ (đóng tại một nước)

+ Các công ti con (các chi nhánh ở nước ngoài).

TNCs có mạng lưới sản xuất, phân phối và quản lý ở tầm quốc tế. Các công ti này làm trung gian cho đầu tư quốc tế để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều quốc gia. TNCs thúc đẩy thương mại thế giới phát triển, đặc biệt là các nước có nền kinh tế hướng về xuất khẩu vì các TNCs giúp khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực sản xuất của các quốc gia này. Các TNCs giúp phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện chuyển giao khoa học - công nghệ cho nước nhận đầu tư. Các công ti xuyên quốc gia đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, đào tạo lực lượng lao động tay nghề cao. Đôi khi, một TNCs có sức mạnh kinh tế lớn hơn cả các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Ví dụ, năm 2018, Tập đoàn tài chính City Group của Mỹ, có tổng giá trị tài sản lên tới 1.917 tỉ USD vời 219 chi nhánh, trong đó có 80 chi nhánh tại nước ngoài và hoạt động đầu tư tại 27 quốc gia.

Ngày nay, số lượng các TNCs mẹ khoảng 160.000, với khoảng 900.000 chi nhánh đang xâm nhập trên toàn thế giới.

Hiện 500 TNCs lớn nhất thế giới kiểm soát hon 2/3 thưong mại thế giới, trong đó phần lớn là các trao đổi được thực hiện giữa các công ti con, chi nhánh của chúng với nhau. Vói tiềm lực của mình, 100 TNCs lớn nhất thế giới đang chiếm khoảng 1/3 tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài hên toàn cầu. Tuy nhiên, sự phân bổ của các công ti đa quốc gia không đồng đều, với phần lớn công ti đa quốc gia trên thế giới có trụ sở chính ở Hoa Kì, châu Âu hoặc Nhật Bản. TNCs tiêu biểu có tỉ trọng bán hàng ở nước ngoài cao trong tổng doanh thu - thường từ 25% trở lên. số lượng nhân viên trong các TNCs lớn nhất bao gồm hàng trăm nghìn người. Ví dụ: General Motors năm 2015 đã tuyển dụng 708.000 công nhân, Siemens 486.000, Ford Motor 464.000...

Top 10 TNCs tại Việt Nam năm 2018 thuộc về: Unilever, Procter & Gamble (P&G), IBM, Microsoft, PepsiCo Foods, Abbott, Honda, Uber, Nestlé, Samsung.

Tuy nhiên, do các TNCs có quy mô kinh tế rất lớn nên có thể dùng sức mạnh của mình để có được vị trí độc quyền, lũng đoạn giá cả, tha hóa cán bộ nhà nước hoặc chuyển tiền ra nhiều hơn là đầu tư vào, gây bất lợi cho nền kinh tế nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển.

 

4. Cá nhân

Cá nhân là chủ thể có thể tham gia một cách linh hoạt vào nhiều loại quan hệ kinh tế quốc tế, như:

+ Tham gia vào quan hệ xuất khẩu lao động. Ví dụ: người Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Trung Đông;

+ Tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa quốc tế với vai trò là thương nhân;

+ Tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục, đào tạo cho nước ngoài. Ví dụ: các giáo sư của các trường đại học đi giảng dạy ở nước ngoài;

+ Tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán nước ngoài;

+ Tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ hay chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cá nhân, tổ chức nước ngoài.

 

5. Chủ thể khác

Ngoài các chủ thể cơ bản nêu frên, trong quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta còn có thể bắt gặp các chủ thể khác như: Các tổ chức phi Chính phủ (NGOs), các vùng, lãnh thổ...

 

5.1 Các tổ chức phỉ Chỉnh phủ (NGOs)

Tên gọi NGOs được đưa vào sử dụng khi thành lập UN năm 1945, đây là loại hình tổ chức được thành lập một cách tự nguyện và hợp pháp, không thuộc bộ máy hành chính nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận. Các NGOs ra đời với nhiều mục đích khác nhau, thông thường nhằm đẩy mạnh các mục tiêu chính trị, xã hội như bảo vệ môi trường thiên nhiên (ví dụ: tổ chức Greenpeace), khuyến khích việc tôn trọng quyền con người (ví dụ: tổ chức Amnesty International), cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi, hoặc đại diện cho một nghị trình đoàn thể.

Xu thế hiện nay khối lượng viện trợ của NGOs cho các nước đang phát triển ngày càng tăng và lĩnh vực hoạt động của NGOs chuyển theo hướng giảm viện trợ nhân đạo và tăng viện ượ phát triển. Các NGOs ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, nhân đạo, giáo dục, tôn giáo, môi trường,... trên thế giới.

Trong quan hệ kinh tế quốc tế, mặc dù không lớn như các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ từ các NGOs là viện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, không chỉ là vật chất mà cả chuyển giao kinh nghiệm, công nghệ, bí quyết cần cho xây dựng kinh tế, nâng cao dân trí...

 

5.2 Các lãnh thổ hải quan

Các lãnh thổ hải quan có quyền độc lập trong quan hệ thương mại và đối ngoại có thể trở thành thành viên của WTO (Điều XII Hiệp định thành lập WTO). Trong quan hệ kinh tế quốc tế, các lãnh thổ hải quan có quyền độc lập này có khả năng và đã tham gia vào các quan hệ thương mại, đầu tư, thanh toán... tương tự như các quốc gia.

Ví dụ: Hiện tại, EU, Ma Cao (Trung Quốc), Hồng Kông (Trung Quốc) là thành viên của WTO. Đây chính là các lãnh thổ hải quan - chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế.

Luật Minh Khuê (tổng hợp từ các nguồn trên internet)