1. Thương mại hàng hóa quốc tế là gì?
Thương mại quốc tế (international trade) là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nước. Thương mại quốc tế cho phép các nước mua được hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn trường hợp tự mình sản xuất ra (nhờ lợi thế so sánh) hoặc có thể tiêu dùng những hàng hóa và dịch vụ mà nền sản xuất trong nước không cung ứng, chẳng hạn nguyên liệu, sản phẩm công nghệ cao chỉ được sản xuất ở một số nước.
Thương mại hàng hóa quốc tế được hiểu là tổng thể các hoạt động thương mại liên quan đến hàng hóa được các nước tiến hành với nhau. Các quan hệ mang bản chất thương mại bao gồm những nhưng không chỉ giới hạn các giao dịch sau: mọi giao dịch nhằm cung cấp trao đổi hàng hóa dịch vụ, các thỏa thuận về phân phối hàng hóa, về đại diện hoặc đại lý thương mại, các giao dịch về sản xuất kinh doanh mọi sản phẩm, hoạt động nhờ người khác thuê mua, xây dựng công trình, hoạt động tư vấn, hoạt động thiết kế kỹ thuật, giao dịch li-xăng, hoạt động đầu tư, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, hợp đồng khai thác hoặc đặt nhượng hợp đồng liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp khác; các giao dịch vận tải hàng hóa vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ,...
2. Các quy tắc điều chỉnh thương mại hàng hóa quốc tế
2.1. Hiệp định WTO
Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được ký kết vào tháng 4 năm 1994 sau khi kết thúc Vòng đàm phán Urugoay.
Trong khi các quy định của GATT cũ (GATT 1947) chỉ áp dụng đối với thương mại hàng hoá thì Hiệp định WTO áp dụng cho cả thương mại dịch vụ và sử hữu trí tuệ. Các Hiệp định của WTO xác định phạm vi thẩm quyền của mình phần lớn đều có tính chất đa phương và vì vậy ràng buộc tất cả các thành viên của tổ chức này.
Mặc dù các quy định cũ của GATT cũng áp dụng cho buôn bán hàng nông sản, những ngoại lệ về các nguyên tắc sử dụng các biện pháp phi thuế và trợ cấp có nghĩa là nó đã không thực hiện một cách có hiệu quả, đặc biệt là đối với trợ cấp xuất khẩu. Điều này đã được sửa lại thông qua Hiệp định của WTO về nông nghiệp.
Từ đầu những năm 1960, buôn bán hàng dệt may đã được điều chỉnh tại GATT như là một trường hợp hợp ngoại lệ và tuân theo những quy định đàm phán riêng (Hiệp định về Đa Sợi). Ngày nay ngành dệt may đã hội nhập mạnh mẽ vào các nguyên tắc của WTO thông qua Hiệp định về Hàng Dệt May.
Về khái niệm thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển được lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác nhằm tăng nguồn thu ngân sách quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự ngành kinh tế hàng hóa tương tự trong nước
Theo Điều II của GATT 1947, mỗi một thành viên lập ra các chương trình nhân nhượng, trong đó có mức thuế quan bắt buộc hoặc các loại lệ phí khác đánh vào hàng hoá nhập khẩu. Điều đó có nghĩa là một mức thuế áp dụng cho một loại sản phẩm nhất định chính là cam kết của một nước thành viên và không thể tuỳ tiện tăng lên mà không có đàm phán bồi thường với các nước đối tác chủ yếu. Điều XI nói về sự dỡ bỏ chung đối với hạn chế định lượng. Tuy nhiên một số giới hạn khác có thể được áp dụng với các điều kiện khắt khe hơn.
MFN như được đề cập trong Điều I, là một nguyên tắc cơ bản của GATT 1994. Đối xử MFN có nghĩa là một thành viên sẽ dành cho hàng hoá của các thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn dành cho bất kỳ một thành viên nào khác.
Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III,* mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện.
Có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này, đặc biệt là trong trường hợp các liên minh thuế quan và FTA. Điều XXIV của GATT 1994 cho phép những thoả thuận như vậy, miễn là đạt được một số tiêu chí nghiêm ngặt. Một trong số những tiêu chí này, được áp dụng trong một thời kỳ chuyển tiếp 10 năm, là thuế quan và hạn chế định lượng sẽ được loại bỏ đối với hầu hết trao đổi buôn bán giữa các bên tham gia các hiệp định đó.
Người ta còn yêu cầu rằng toàn bộ rào cản thương mại không được tăng lên. Các tiêu chí khắt khe có tác dụng đảm bảo cho các hiệp định tạo thuận lợi thương mại giữa các nước thành viên mà không tăng thểm rào cản đối với thế giới bên ngoài. Bằng cách này, hội nhập khu vực sẽ bổ sung cho hệ thống thương mại đa phương mà không làm giảm tác dụng của nó.
2.2. Công ước EFTA.
Các điều khoản của Công ước EFTA áp dụng chủ yếu cho toàn bộ sản phẩm công nghiệp, bao gồm cá và các hải sản khác. Có một số quy định đặc biệt áp dụng cho hàng hóa chế biến từ nguyên liệu nông sản và nông sản.
Các Điều 3 và 8 đề cập tới việc bãi bỏ thuế xuất nhập khẩu. Việc bãi bỏ được chia thành nhiều giai đoạn: thuế xuất khẩu vào năm 1962 và thuế nhập khẩu vào năm 1966. Điều 6 quy định rằng lệ phí tài chính áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu sẽ không đạt được việc bảo hộ một cách có hiệu quả các sản phẩm nội địa tương tự hoặc có thể thay thế được, trong khi đó Điều 10 và 11 đề ra việc bãi bỏ những hạn chế định lượng đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể lại có những ngoại lệ cho các quy định này.
Theo Điều 26, cá và hải sản khác là những mặt hàng được tự do buôn bán trong EFTA. Sự mở rộng của Công ước đối với những sản phẩm này được thực hiện vào năm 1990 sau một vài lần thử nghiệm. Trao đổi buôn bán những mặt hàng này không những được miễn thuế mà còn tuân theo một số quy định chung khác của Công ước EFTA, đặc biệt là sự cạnh tranh và các quy định về viện trợ Nhà nước.
Như đã nêu trên, buôn bán hàng hoá chế biến từ nguyên liệu nông sản và các mặt hàng nông nghiệp được nêu trong Phụ lục D và tuân theo các quy định đặc biệt sẽ được đề cập chi tiết hơn trong một chưong khác của sách này. Mục tiêu của các quy định này là loại trừ yếu tố công nghiệp trong thuế nhập khẩu đối với các hàng hoá đó trong khi yếu tó nông nghiệp vẫn được duy trì như là một yếu tố được bảo hộ. Việc sắp xếp hỗn hợp này là sự thừa nhận một thực tế rằng các nước tham gia EFTA tiếp tục giữ chính sách độc lập trong lĩnh vực nông nghiệp.
Để tự do hoá buôn bán nông sản, các Nhà nước EFTA quyết định dựa vào những hiệp định song phương trong đó sự nhượng bộ về thuế quan sẽ được áp dụng có lợi cho tất cả các Nhà nước Thành viên.
2.3. Hiệp định EEA
Hiệp định EEA nhìn chung đã mở rộng các quy định về thị trường nội địa của EU sang các nước EFTA EEA (Iceland, Liechtếnstếin và Na Uy). Trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, đưcmg nhiên EEA có thể xây dựng trên chế độ buôn bân miễn thuế đã đạt được theo các hiệp định thương mại tự do nói trên.
Đối với hàng hoá công nghiệp, các điều khoản của Hiệp định EEA áp dụng cho các sản phẩm thuộc Chương 25 đến 97 của Hệ thống HS, trừ hoá chất casein và một số hợp chất albumins và dextrins<10. Các điều khoản của Hiệp định này cũng áp dụng cho nông sản chế biến nhưng phải tuân theo một số quy định đặc biệt đề ra trong Nghị định thư số 3. Đối với nông sản, người ta đã đồng ý sẽ xem xét những vấn đề cụ thể nảy sinh và định kỳ rà soát lại các điều kiện thương mại hướng tới mục tiêu dần dần tự do hoá. Ngoài ra, các quy định chung về thú ý và kiểm dịch thực vật cũng được đưa vào trong Hiệp định.
Nghi định thư số 9 của Hiệp định EEA đưa ra các điều khoản áp dụng cho buôn bán cá và các loại hải sản khác. Các nước tham gia EFTA EEA sẽ bỏ thuế nhập khẩu và những hạn chế định lượng nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng này trong khi cam kết của EU không triệt để như vậy.
Buôn bán các sản phẩm than và thép được đề cập đến trong Nghị định thư số 14 với quy định về loại bỏ thuế quan và các hạn ché định lượng. Buôn bán các sản phẩm này phải tuân thủ các hiệp định giữa các nước thành viên EFTA, EEA và thành viên của ECSC.
2.4. Những hiệp định thương mại tự do (FTAs)
Mục tiêu cơ bản của FTAs là đảm bảo tính song hành với EC, tức là hàng xuất khẩu từ các nước EFTA được đối xử bình đẳng với hàng xuất khẩu từ EC sang các nước thứ ba. Vì vậy, các Hiệp định về thực chất được lấy mẫu theo các điều khoản liên quan đến thương mại của các Hiệp định Hiệp hội EC. Bên cạnh đó Công ước EFTA và các FTA trước đây giữa EEC và các nước EFTA cũng được sử dụng làm mẫu.
FTAs áp dụng đối với các sản phẩm công nghiệp thuộc các chương từ 25 đến 97 của HS, trừ các chất Casein và một số Albumin nhất định, đối với nông sản chế biến ghi trong Nghị định thư A và đối với cá cùng các hải sản khác như đã nêu trong Phụ lục II. Việc kinh doanh nông sản cơ bản được điều chỉnh bởi các thoả thuận song phương giữa các nước EFTA và các nước đối tác.
Do điều kiện kinh tế của nhiều nước đối tác đặc biệt và phức tạp, phần lớn FTAs là không cân xứng, cho phép các nước đối tác duy trì suốt thời kỳ chuyển đổi những hạn chế thương mại về một loại sản phẩm nhất định. Các thoả thuận chuyển đổi đặc biệt dược nêu trong các Phụ lục. Thời kỳ chuyển đổi kéo dài khác nhau từ 4 đến 12 năm
FTAs khuyến khích loại bỏ thuế quan (cũng là bản chất tài chính), biện pháp có hiệu quả tương đương và những hạn chế số lượng. Tuy vậy, trong những Hiệp định với CEECs cũng như các nước EFTA còn bảo lưu những ngoại lệ nhất định và những thoả thuận chuyển đôi. Tất cả những ngoại lệ này đã dần dần bị loại bỏ. Do đó, chúng không nằm trong các FTAs mới và các Hiệp định hiện nay cũng được sửa đổi theo.
Các Hiệp định này cũng bao trùm lên việc buôn bản nông sản chế biến. Những thoả thuận riêng được nêu trong Nghị định thư A và các bảng danh mục sản phẩm riêng của từng nước. Các nước EFTA đã bãi bỏ yếu tố công nghiệp và một phần hoặc toàn bộ yếu tố nông nghiệp của thuế nhập khẩu của các sản phẩm ghi trong bảng tương ứng. Họ chấp nhận cho các nước đối tác việc đối xử không ít thuận lợi hơn như đối với EC. Đa số các nước đối tác đã nhượng bộ các nước EFTA như đã nhượng bộ đối với EC.
Theo Phụ lục II, các điều khoản của FTAs cũng bao trùm sản phẩm cá và các hải sản khác. Đến tháng 1.1999, khi ngoại lệ này bị bãi bỏ, Liechtenstein và Thụy Sĩ có thể duy trì thuế quan đối với cá nước ngọt, mỡ và dầu ăn, thức ăn gia súc. Cũng như thế, một số nước đối tác bảo đảm những ngoại lệ và/hoặc những thoả thuận chuyển đổi có tính hạn chế hoặc rộng rãi.
>> Xem thêm: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại?